Lược sử Thiền tông Việt Nam

20:03 |
Lời giới thiệu: Là một thiền sinh của đạo Phật có nên chăng chúng ta cũng cần biết, cần hiểu về lịch sử thiền tông, về cội nguồn của con đường tu tập, đặc biệt là về thiền phái mà mình đang theo học. Để từ đó có một cái nhìn, một nền tảng toàn diện hơn, thấu hiểu hơn về con đường mình đã chọn. Bài viết cố gắng mô tả lại một cách ngắn gọn, súc tích nhất về dòng chảy lịch sử của thiền tông Phật giáo Việt Nam qua đời các vị tổ. Trân trọng giới thiệu!

Thiền tông là một trong nhiều pháp môn tu tập của Phật giáo, con đường giúp con người đi đến sự giải thoát tối hậu bằng cách thấu hiểu trực diện bản chất sự vật. Vị khai tổ của pháp môn này chính là Đức phật Thích ca Mâu ni.

Các kinh sách, giáo lý căn bản của thiền tông hay được nhắc đến là: Kinh Lăng già do Tổ Bồ đề Đạt Ma truyền, Tổ Huệ Năng giảng kinh Kim cang. Bộ Pháp Bảo Đàn Kinh tông chỉ thiền Vô Niệm do tổ Huệ Năng khởi xướng, sách Định Pháp Vô Minh bí quyết của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử…

Tông chỉ: Bất lập văn tự, ngoại giáo biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.

Theo các tích truyền lại rằng: Thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, một hôm, đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật, cầm một cành hoa đưa lên giữa chúng hội và không nói gì cả. Đại chúng đều ngơ ngác, phân vân không hiểu, chỉ duy nhất có ngài Ma ha Ca diếp mỉm miệng cười. Khi ấy, đức Phật dạy: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết bàn, nay truyền lại cho Ma ha Ca diếp.” Từ đó, ngài Ca diếp nhận lãnh truyền thừa, trở thành tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ. Sau đó thiền tông Ấn Độ truyền đến đời thứ 28, lúc này là tổ Bồ Đề Đạt Ma.

1. Lược sử thiền tông Trung Hoa
Trước khi tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa thì đạo Phật đã du nhập vào đất nước này và phát triển rộng rãi, trong đó có thiền tông. Tuy nhiên, do vấn đề thời gian quá xa, các sách ghi lại không nhiều, mặt khác thiền tông Trung Hoa lại phát triển rực rỡ kể từ khi Tổ Đạt Ma sang truyền giáo, nên lịch sử thiền tông Trung Hoa được chú trọng từ sau thời điểm xuất hiện Tổ Đạt Ma.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa năm 520, có đến gặp vua Lương Võ Đế, nhưng thấy căn khí nhà vua không hợp, ngài lên núi Tung Sơn, vào một hang động ngồi yên lặng trong chín năm. Trong thời gian này có một vị tăng tên Thần Quang tìm đến thọ pháp. Tổ khai ngộ cho Thần Quang, và đổi tên thành Huệ Khả. Về sau, Tổ Bồ đề Đạt ma truyền y bát cho Huệ Khả làm Nhị tổ.

Các đời tổ sư tiếp theo là Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Lục tổ Huệ Năng. Đến đời Lục tổ, thiền tông Trung Hoa phát triển rực rỡ, kinh sách truyền lại cho hậu thế tới nay cốt tủy là bộ Kinh Pháp bảo đàn- kim chỉ nam cho tất cả những người tu thiền đốn ngộ, hay Vô Niệm thiền.

Từ thời tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền tông Trung Hoa chia ra làm hai phái Nam tông và Bắc tông. Nam tông do ngài Huệ Năng khởi xướng chủ trương pháp thiền đốn ngộ. Bắc tông theo pháp thiền tiệm ngộ, do Đại sư Thần Tú dẫn dắt. Thiền Nam tông do ngài Huệ Năng truyền lại sau này hình thành lên năm phái lớn gồm có các tông Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn.

2. Lược sử thiền tông Việt Nam
Lịch sử thiền tông Việt Nam khởi nguồn rất sớm từ thế kỷ thứ nhất, qua sự truyền bá trực tiếp của các nhà sư Ấn Độ theo con đường giao thương. Đến thế kỷ thứ 2, 3 nhiều chùa chiền đã được xây dựng ở Giao Châu, theo đó kinh điển, giáo lý nhà Phật cũng được dịch ra hán ngữ và phổ biến rộng rãi trong tầng lớp tu sĩ. Người đáng chú ý nhất trong công cuộc truyền bá đạo Phật (trong đó có thiền tông) vào Việt Nam ở giai đoạn này là Đại sư Khương Tăng Hội.

Rất đáng tiếc là, do thời gian quá dài nên hiện tại chưa có chứng cứ cụ thể nào để xác định ngài Khương Tăng Hội khai sơn ở đâu, mở Pháp hội nào, truyền pháp cho ai, có là tổ một tông phái nào không. Tuy vậy Thiền tông Việt Nam vẫn tiếp tục pháp triển trên nền tảng này đến thế kỷ thứ 6 thì xuất hiện Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
a.Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Thiền phái do Đại sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người sáng lập. Ngài là người Ấn Độ sang Trung Hoa học pháp với Tam Tổ thiền tông Trung Hoa: Tăng Xán. Sau đó năm 580, ngài sang Việt Nam, đến chùa Pháp Vân, gặp và truyền pháp cho sư Pháp Hiền. Từ đây thiền tông Việt Nam chính thức có một thiền phái thực sự, kế thừa những tinh hoa của thiền tông đạo Phật. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi kể từ đời Pháp Hiền thì truyền thêm được 18 thế hệ (đến đầu thế kỷ 13).
b.Thiền phái Vô Ngôn Thông
Thiền phái do Đại sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, Trung Quốc là người sáng lập. Ngài ngộ pháp từ Đại sư Bách Trượng (ĐS Bách Trượng đắc pháp với ĐS Mã Tổ, ĐS Mã Tổ đắc pháp với ĐS Hoài Nhượng, ĐS Hoài Nhượng đắc pháp với lục tổ Huệ Năng. Như vậy Đại sư Vô Ngôn Thông thuộc thế hệ thứ 4 kể từ sau Lục tổ Huệ Năng). Năm 820, ngài từ Quảng Châu sang Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Bắc Ninh, truyền pháp cho ngài Cảm Thành. Thiền phái Vô Ngôn Thông bắt nguồn từ đó, truyền được 16 thế hệ (đến cuối thế kỷ 13).
c. Thiền phái Thảo Đường
Thiền phái do Đại sư Thảo Đường là người sáng lập. Ngài là người Trung Hoa, đệ tử của thiền sư Tuyết Đậu (? -1052). Thiền sư Tuyết Đậu, học pháp từ Đại sư Vân Môn (864 – 949) - người sáng lập thiền phái Vân Môn kế thừa dòng thiền Nam tông do Lục tổ Huệ Năng khởi xướng. Xét trên thế hệ truyền thừa thì ngài Thảo Đường thuộc thế hệ thứ 9 của Lục tổ Huệ Năng.

Trong sử có ghi lại, Đại sư Thảo Đường bị vua Lý Thánh Tông bắt làm tù binh, trong lúc đem quân chinh phạt Chăm Pa (năm 1069) và đem về Đại Việt. Sau đó với tài đức của mình, ngài được vua phong làm quốc sư. Từ đó, ngài Trụ trì chùa Khai Quốc tại kinh thành Thăng Long, lập ra Thiền phái Thảo Đường của Việt Nam, kéo dài 6 thế hệ, (đến đầu thế kỷ 13).
d.Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thiền phái do sơ tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông là người sáng lập. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được xem là tiếp nối và hợp nhất của ba dòng thiền đang tồn tại ở Việt Nam trong thế kỉ 12. Đó là dòng Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, và Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Trong đó tư tưởng của dòng thiền Vô Ngôn Thông có sự ảnh hưởng trực tiếp hơn cả, thông qua các vị Đại sư Thường Chiếu (đời thứ 12 thiền phái Vô Ngôn Thông), rồi các vị Hiện Quang, Đạo Viên, Đại Đăng, Tiêu Diêu, Huệ Tuệ, Tuệ Trung…Các vị tổ kế tục là Đệ Nhị sư tổ Pháp Loa, đệ tam sư tổ Huyền Quang. Sau đời đệ tam sư tổ thiền phái còn kế tục thêm được 17 đời (đến cuối thế kỷ 17), rồi ngắt quãng đến đầu thế kỷ 21.

Trước đó, vào cuối thế kỷ 20, nhiều thiền viện mang hình ảnh thiền phái được xây dựng và thành lập, giúp cho việc phục hồi quảng bá dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử tới đại chúng.

Năm 2006, Y bát của thiền phái đã được truyền lại cho thiền sư Nguyệt Quang Tử, với sách “Định Pháp Vô Minh” nơi chứa bí quyết của thiền phái.

Thiên thu nay đã thỏa ước nguyền
Gươm thiêng trao trọn với niềm tin,
"Định pháp vô minh" ta truyền lại,
Cho con giữ mãi một đức tin
(Đệ nhất sư tổ TNT)
e. Thiền phái Lâm Tế
Vào khoảng nửa cuối thế kỷ 17, có một vị đại sư tên Minh Hoằng Tử Dung (đời thứ 34 dòng Lâm Tế), người Quảng Đông, Trung Quốc, đến khai sơn chùa Ấn Tôn ( nay thuộc thành phố Huế). Sau đó ngài đã truyền thiền cho đại sư Liễu Quán vào năm 1708. Từ đấy đại sư Liễu Quán (?-1793) chính thức là Tổ của dòng Lâm Tế Việt Nam, thuộc thế hệ 35 dòng Lâm Tế Trung Hoa. Đến nay, thiền phái này vẫn tồn tại ở miền Trung Việt Nam.
f. Thiền phái Tào Động
Tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam là Đại sư Thủy Nguyệt (1636 – 1704), quê ở Thái Bình, sang Trung Quốc tu học. Đến năm 1667, sau ba năm ở Trung Quốc, ngài về nước, trú tại chùa Vọng Lão, huyện Đông Triều, Hải Dương. Đại sư thành lập Thiền phái Tào Động, phát triển mạnh mẽ hơn 100 năm. Đến ngày nay vẫn còn khá nhiều chùa và chư Tăng Ni thuộc Thiền phái Tào Động ở nhiều tỉnh thành ở miền Bắc.

Thiền tông Phật giáo nói chung và thiền tông Việt Nam nói riêng, đã trải qua một bề dày phát triển của lịch sử, từ thời Đức Phật còn tại thế tới nay đã hơn 2500 năm, vẫn chứng tỏ một sức sống trường tồn. Thiền giáo đã chỉ ra một con đường tu tập tâm linh, giúp hành giả tiến bộ trên con đường phát triển linh hồn của mình. Hy vọng rằng những thế hệ thiền sinh kế tục sẽ hoan hỷ nối tiếp dòng chảy bất tận của Thiền tông, của các vị tổ và mang được những giá trị đích thực của thiền vào cõi nhân sinh.

Tài liệu tham khảo và trích dẫn:
Đoàn Trung Còn, hiệu đính Nguyễn Minh Tiến, Các tông phái Đạo Phật, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
Thích Phước Đạt, Lịch sử truyền thừa -Thiền phái Trúc Lâm. 
Trần Tuấn Mẫn, Thiền tông Việt Nam.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận I-II-II, Nhà xuất bản Văn Học, 1979.
Thích Phước Sơn, dịch và chú giải, Tam tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995.

Thích Thanh Từ, Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Thiền viện Thường Chiếu, 1997.
Trang bách khoa toàn thư mở 
https://vi.wikipedia.org.
Read more…

Điểm giống và khác nhau của 2 bài luyện Đan Điền Công

00:37 |
Điểm giống và khác nhau của 2 bài luyện Đan Điền Công.
1.  Giống nhau:
a. Cả hai bài luyện đều là bài luyện ĐĐC-tên theo công pháp hay đều là Sinh khí công-tên gọi theo chức năng. Là một bài luyện căn bản trong hệ thống Tĩnh khí công. Có tác dụng dưỡng sinh rất cao.
Vì cùng là một công pháp, lại trong cùng một hệ thống, nên hình thức và cách thức tập luyện mang đặc thù chung, tương đối đồng nhất về: hơi thở, quán tưởng, mật lệnh và đường đi của khí.
b. Có chung một tác dụng chính đó là: “Phát sinh chân khí ở Đan Điền”.
2. Điểm khác nhau:
a. Về tên gọi khác nhau: ĐĐC vòng Thái cực nội gia quyền; ĐĐC vòng Thái cực ngoại gia quyền. Có thể hình dung và hiểu trực quan là: một bài luyện với vòng (dẫn khí) trong, 1 với vòng ngoài, một luyện với vòng nhỏ hơn, một vòng lớn hơn.
b. Về độ khó luyện tập nói chung: luyện vòng ngoại gia quyền đỏi hỏi nhiều công phu và sự nỗ lực hơn.
c. Về đường đi của khí: Mặc dù cả hai bài luyện đều tập trung luyện khí trong phạm vi mạch Nhâm và mạch Đốc. Tuy nhiên bài luyện với vòng nội gia chú ý nhiều tới 2 điểm (2 trung tâm tụ khí, 2 trung tâm năng lượng) là Bách Hội và Đan Điền. Trong khi đó vòng ngoại gia tập trung tới 4 điểm, ngoài 2 điểm trên còn bổ sung thêm tổ hợp Trường cường-Hội âm và Mệnh Môn, đồng thời đường dẫn khí được mở rộng, kéo dài hơn.
Như vậy với việc mở rộng đường dẫn khí, bài luyện ĐĐC ngoại gia quyền đã giúp việc luyện tập trên hai đại mạch một các đầy đủ và toàn diện.
d. Về quá trình hô hấp: Vòng nội gia quyền: hô hấp 4 thì chia làm 4 giai đoạn (bằng nhau). Vòng ngoại gia hô hấp 4 thì chia làm 8 giai đoạn (bằng nhau?).
e. Tác dụng:
Ngoài tác dụng chung của cả công pháp là: “phát sinh chân khí ở Đan Điền”. Thì bài luyện ĐĐC ngoại gia quyền còn có một số tác dụng thêm:
+ Hoàn thiện một cách đầy đủ quá trình luyện tập trên hai đại mạch của cơ thể: Đả thông hai mạch Nhâm Đốc.
+ Làm quen với việc thở ra chia làm 2 giai đoạn, trợ giúp cho việc thở Nội Chu Thiên và các công pháp khác với cùng cách thở.
+ Cân bằng năng lượng âm và năng lượng Dương trong cơ thể. Đặc biệt là quá trình cân bằng âm dương trong Đan điền.
+ Kích phát năng lượng ở tổ hợp Trường cường-Hội âm: có thể liên quan đến việc kích phát Hỏa xà và quá trình sản sinh tế bào mầm.
Read more…

Hướng dẫn tập Đan Điền Công

01:04 |

Read more…

Trả lời về ngày tốt xấu

01:12 |
Trích dẫn Gửi bởi Hoasentrang Xem bài viết

Xin hỏi về ngày cưới
Em SN 20/7/1983 (DL). Bạn trai em SN 13/09/1983 (DL).
Em có 1 số vấn đề muốn nhờ diễn đàn giúp
1. Năm nay 31 tuổi là Kim lâu, bạn trai thì sao Thái Bạch, như vậy có tổ chức được không ạ? Nếu tổ chức được thì tổ chức được vào ngày tháng nào ạ.
2. Em gái em vừa cưới đầu năm, 1 số người nó với em là nhà có 2 chị em thì kiêng ko cưới cùng trong 1 năm được. Có đúng không chị?
Em cảm ơn ạ.
Em Thúy
(Những thành viên của Nhóm phong thủy nghiên cứu trả lời nhé)
Trả lời vấn đề tuổi kết hôn
(bài viết ngày 05-9-2013)

1. Cá nhân tôi cho rằng: năm kết hôn không phải là yếu tố quyết định cho hạnh phúc của các cặp vợ chồng sau khi cưới. Nếu hạnh phúc gia đình được mô tả qua một hàm số gồm nhiều biến số thì biến số năm kết hôn góp sự ảnh hưởng không nhiều. Hơn nữa cái mình quan tâm là nhiều thứ khác sao cho cân bằng, ổn thỏa càng nhiều yếu tố càng tốt.
Nếu đây là một bài tập cứng nhắc và chỉ dùng lý học để giải thì tuổi hai bạn này đều phạm hạn xấu Tam tai- với tôi đây là yếu tố quan trọng hơn rất rất nhiều tuổi Kim Lâu hay tuổi sao chiếu khi xét năm kết hôn. Và trong 3 năm Tị Ngọ Mùi đều phạm Tam tai. Nghĩa là nếu cứ một mực trông vào chọn năm thì trong 2 năm tới vẫn là năm xấu.
Tuy nhiên tôi cũng từng nghe một nhà nghiên cứu lý học nào đó nói: nếu cô dâu ngoài 30 tuổi thì không cần kén tuổi cưới. Tôi cũng rất đồng tình với ý kiến này ít nhất là về mặt nhân sinh quan. Con gái có lứa có thì không thể đợi lâu quá được.
Như trường hợp này, chú rể và cô dâu đều đã ngoài 30, sự chờ đợi về thời gian, áp lực tâm lý, sinh lý, thiên chức làm mẹ… là những yếu tố tôi nghĩ là nên coi trọng hơn cả.
Nên ý kiến cá nhân tôi ủng hộ hai bạn kết hôn trong năm nay, nếu hai bạn tự sắp xếp và cân nhắc có thể tổ chức cưới được trong năm nay thì cứ tiến hành. Tháng cưới đại lợi của cô dâu tuổi Hợi vẫn còn tháng 9 (âm), thời tiết mát mẻ, lòng người hân hoan.
2. Tôi cũng chưa hiểu xuất phát từ căn cứ lý học nào mà từ trước người ta lại có những lời khuyên”nhà có 2 chị em thì kiêng ko cưới cùng trong 1 năm được”. Vấn đề ở đây rất có thể là xuất phát từ một thực tế khách quan, qua một quá trình tổng kết nhiều lần đã đưa ra ý kiến đó.
Thiển nghĩ, thì rất có thể, khi chuẩn bị tổ chức đám cưới hỏi là khoảng thời gia khá mệt mỏi cho cả gia đình, lo tổ chức hôn sự, tiền nong tổ chức lễ cưới…Có lẽ điều này sẽ gây tổn hại sức khỏe, thời gian, tiền bạc của gia đình đó. Đặc biệt là thời xưa khi mọi yếu tố không được thuận lợi nhiều như bây giờ. Đó là chỉ xét một đám cưới đã như vậy, nếu là 2 người cùng cưới trong khoảng một thời gian khá ngắn (1 năm) thì chắc chắn áp lực ảnh hưởng không tốt sẽ tăng gấp đôi.

Tuy nhiên hiện tại, việc tổ chức cưới hỏi không phải là điều gì gây quá nhiều bất thường trong cuộc sống, đặc biệt khi đời sống kinh tế đã có nhiều thay đổi. Thậm chí còn tạo tâm lý thoải mái cho bố mẹ khi con cái đều có nơi có chốn. Bởi vậy nếu hai bạn nghĩ rằng những khó khăn phía trên không quá quan trọng thì việc 2 chị em tổ chức cưới trong cùng một năm vẫn cứ được.
Read more…

Khí Công Tâm Linh- Hướng dẫn luyện tập dành cho người mới

03:22 |

Tôi được biết là có nhiều bạn muốn học khí công, học thiền. Nhưng số đông đều cảm thấy có nhiều khó khăn mà không dám bước vào luyện tập, hoặc đã bắt đầu tập rồi nhưng vẫn còn băn khoăn không biết mình đã tập đúng chưa. Những câu hỏi hay đặt ra là: Tư thế tập thế nào ? Giờ nào tập thì tốt ? Nếu có suy nghĩ lung tung khi ngồi tập thì phải làm sao ? Tập thiền môn này trong khi trước đây đã học các môn khác thì có được không ?…Xuất phát từ những điều đó, tôi viết bài này với mong muốn giới thiệu một cách ngắn gọn cho một người mới bắt đầu tập luyện môn "khí công tâm linh", những kiến thức cơ bản ban đầu, để có thể tiến hành vào luyện tập ngay mà chưa cần quan tâm nhiều đến những vấn đề lý luận sâu hơn đằng sau. Vì là bài viết dành cho người mới nên sẽ có một số điều mà nhiều bạn đã biết rồi.
Để có một cái nhìn tổng quan ban đầu, tôi xin nói một chút về khí công, phần sau sẽ nói về những chú ý cần biết cho việc bước vào luyện tập.

1. Khí công là gì?
Khí ở đây không đồng nhất với không khí mà ta hít thở hàng ngày. Mà khí ở đây được hiểu là một dạng năng lượng tồn tại trong vũ trụ có thể biểu hiện ở nhiều dạng, nhiều trạng thái khác nhau. Khí ở đây có tên là " Năng lượng bức xạ sinh học" hay " Năng lượng Vũ trụ "
Công ở đây là công phu, công pháp, là một thuật, một phương pháp…
Như vậy có thể hiểu khí công là công phu vận hành khí. Đó là một thuật rèn luyện đồng thời cả tinh thần và thể chất. Nhiều người còn đồng nhất khí công là một phương pháp rèn luyện, phục hồi, nâng cao sức khỏe; khí công là một phương pháp chữa bệnh; khí công là một phương pháp dưỡng sinh, là một phương pháp luyện tập trong võ thuật, là phương pháp giữ gìn tuổi thanh xuân; là con đường để khai tâm mở huệ, kích phát các tiềm năng, công năng đặc biệt của con người…Theo tôi khí công bao hàm tất cả các ý nghĩa trên. Qua đây các bạn có thể phần nào hiểu về ý nghĩa tác dụng của việc luyện tập khí công.

2. Khí công tâm linh là gì?
KCTL là một con đường luyện tập khí công với nền tảng là “tĩnh công ý thức” (ngồi thiền chủ động) đồng thời có sự hỗ trợ trực tiếp và rất hiệu quả của lực lượng chính đạo thuộc " Thế giới Tâm linh ".

3. Một số điều bạn cần biết để bắt đầu luyện tập.
Tôi xin đưa ra một số điểm chính mà nhiều người mới học thiền hay có thắc mắc.

Về tư thế:
Vì là bộ môn ngồi thiền nên bạn cần phải ngồi (với một vài trường hợp cá biệt về tuổi tác hay đang ốm nặng thì có thể ngồi ghế hay nằm) Tuy nhiên để đạt hiểu quả tốt nhất thì lời khuyên chân thành là bạn nên ngồi cho đúng. Bạn có thể ngồi xếp bằng, ngồi ở tư thế bán già (một chân này để lên đùi chân kia), hay ngồi kiết già (chân này để lên đùi chân kia). Với những người tương đối trẻ tuổi thì nên ngồi kiết già hay bán già thì sẽ tốt hơn. Bạn cũng có thể ngồi trên một tấm nệm nhưng đừng quá dày và quá êm. Trong cả ba tư thế đó thì yêu cầu chung là lưng thẳng, cổ thẳng, thả lỏng toàn bộ cơ thể. Bạn phải đảm bảo chắn chắn rằng tất cả các cơ có thể thả lỏng đều được thả lỏng, thả lỏng bằng ý thức của mình. 
Sau khi bạn đã ổn định ở một tư thế đã chọn với sự thả lỏng toàn thân. Bạn hãy nhẹ nhàng nhắm mắt lại, hai tay để ngửa đặt trên đầu gồi với ngón trỏ chạm nhẹ vào ngón cái, các ngón còn lại duỗi thằng (kết ấn vô minh), khi đó lưỡi hơi để chạm nhẹ vào vòm miệng phần chân răng hàm trên (cứ ngậm miệng lại là được rồi), hơi thở tự nhiên, nhẹ nhàng và đừng cố gắng dẫn dắt hơi thở theo một lộ trình nào cả, hãy để nó thật tự nhiên, thật thoải mái. Cuối cùng một lần nữa bạn dùng ý thức của mình kiểm tra, dò lại tất cả những điều trên xem đã đúng chưa. Nếu đã xong chúng ta có thể bật bài luyện của Thầy và tập luyện.

Về tư tưởng trong quá trình luyện tập.
Một số người mới bắt đầu sợ rằng: Khi thiền cần phải vô thức, đầu óc không được nghĩ gì nhưng để làm được điều đó thì rất khó nên đã không dám tập hoặc không đủ kiên trì để bắt đầu tập. Đúng là thiền thì cần phải buông bỏ suy nghĩ, buông bỏ tạp niệm. Tuy nhiên với người mới học Thiền thì điều đó gần như là không thể. Cứ kiên trì một thời gian với tâm niệm: những suy nghĩ lung tung cần phải được loại bỏ, chúng ta sẽ làm được. 
Có hai trạng thái tư tưởng mà người tập có thể sử dụng khi luyện các bài tập là: trạng thái quán tưởng theo nội dung bài tập và trạng thái nhập tĩnh. Vì các bạn đều là những người mới nên tôi sẽ nói rõ về trạng thái quán tưởng theo nội dung bài tập. Tức là khi nghe thấy các lời hô các lệnh trong bài thì bạn cần quán tưởng, mường tượng ra những cảnh đó, vật đó trong suy nghĩ của mình. VD khi Thầy hô “ từ trên rất cao vòng thanh khí chân dương xoay theo chiều thiên chuyển xoáy thẳng xuống đỉnh đầu Bách Hội. Khi đó bạn chỉ cần nghĩ rằng có một vòng xoáy khí quay ở trên cao xoáy vào đỉnh đầu…
Một số thuật ngữ trong các bài tập mà bạn nên nắm được:
Thiên cung là vùng không gian trên đỉnh đầu
Địa cung là vùng dưới chỗ ngồi
Bách hội: một huyệt ở chính giữa trên đỉnh đầu
Mạch Nhâm: mạch chạy dưới da phía trước cơ thể
Mạch Đốc: mạch chạy phía sau cơ thể
Trục sinh lực: ống nối từ đỉnh đầu Bách hội, nằm chính giữa cơ thể xuống thẳng Hội âm.
Chiều thiên chuyển: chiều vặn nút chai xoáy vào đỉnh đầu xuống dưới
Chiều địa chuyển: chiều vặn nút chai xoáy từ dưới chỗ ngồi lên trên…
Dưới đây là hình ảnh các huyệt đạo quan trọng:


Xin lưu ý thêm một chút: ở giai đoạn đầu, khi các bạn tự luyện tập, cũng là giai đoạn bạn đang được môn pháp " Khí công Tâm linh " khai tâm mở huệ và phần thực thể thì đang được chữa bệnh và làm sạch. Vì là một người mới nên trong giai đoạn này các bạn chưa cần lưu ý đến hơi thở của mình, mặc dù bạn có thể quán tưởng theo nội dung bài tập nhưng bạn cũng chưa cần phải hiểu hết ý nghĩa những lời dẫn luyện đó. Một các đơn giản, các bạn chỉ cần làm một việc duy nhất là :NGỒI ĐÚNG TƯ THẾ - KIÊN TRÌ LUYỆN TẬP - TẬP TRUNG CẢM NHẬN SỰ THAY ĐỔI TRONG CƠ THỂ CỦA MÌNH.

Về cảm giác trong khi luyện tập.
Các bạn mới tập cũng đừng nên truy cầu nhiều quá về các cảm giác. Cứ để chúng xuất hiện thật tự nhiên và bạn hãy hoan hỉ ghi nhận chúng lại. Các cảm giác có thể gặp trong khi luyện: tê, mỏi, nóng, lạnh, mát, rung động, co giật, xoay đảo…có thể một vài người thấy có ánh sáng, hình ảnh, ngửi thấy mùi vị, nghe thấy âm thanh…tất cả đều rất bình thường cứ tiếp tục chuyên chú luyện tập. Có một số bạn cũng chia sẻ rằng không có cảm nhận gì hoặc rất ít, yên tâm bạn nằm trong số 30 – 35% người có cơ địa ít nhạy cảm, còn những người có cơ địa nhạy cảm, có thể nhận biết tín hiệu ngay cũng không nhiều hơn 30% đâu. Nhưng sau một vài tháng luyện tập cảm nhận về khí nhất định sẽ xuất hiện với hầu hết những người đã tham gia luyện tập môn này. Với tôi một cách thiết thực nhất là bạn hãy tự kiểm chứng lại tình trạng sức khỏe, trạng thái tâm lý của mình đã được cải thiện ở mức độ nào. Đó mới chính là điều đáng quan tâm nhất.
Nếu có hiện tượng lạ xảy ra trong khi luyện tập thì các bạn có thể tạm dừng rồi sau đó lại luyện tập tiếp. Môn học này hoàn toàn không gây ra một điều gì bất lợi cho người tập.

Về thời gian, phương hướng luyện tập
Hầu hết các bạn đều rất bận rộn với các công việc của mình thế nên hãy tập bất cứ khi nào bạn rảnh. Ít nhất một lần trong ngày, có thể là buổi sáng, buổi trưa, buổi tối…đều được cả. Mỗi bài luyện kéo dài khoảng 40-50 phút, bạn hãy đảm bảo cho đủ quỹ thời gian để hoàn thành bài tập. Thật là tốt nếu bạn có thể tìm cho mình một chỗ thoáng đãng, mát mẻ, ít người làm phiền để bắt đầu một bài tập, trong phòng ngủ cũng được, ngoài ban công, công viên, vườn hoa…đều được cả. 
Có một số người còn thắc mắc về phương hướng ngồi thiền. Có lý thuyết cho rằng: buổi sáng thì quay mặt về hướng Đông, trưa là hướng Nam, chiều là hướng Tây, tối là hướng Bắc. Được như vậy cũng rất tốt. Tuy nhiên bạn cũng có thể tự tìm cho mình một hướng ngồi, cả vị trí ngồi nữa mà bạn cảm thấy có hiệu quả nhất.

Chắc chắn nhiều bạn sẽ có vài vấn đề thắc mắc, các bạn có thể gửi câu hỏi trực tiếp lên diễn đàn chúng ta cùng trao đổi thêm hoặc bạn cũng có thể tham khảo các chủ đề có liên quan tương tự trong diễn đàn.
Lời cuối xin chúc các bạn thành công.

Phần dưới là link để tải các bài luyện căn bản của bộ môn Khí Công Tâm Linh. Các bạn có thể tải và luyện tập theo thứ tự các bài luyện được đánh số từ nhỏ tới lớn.

1. Bài Thanh Khí Khai tâm http://www.mediafire.com/?5aqb5kb11qyjd5u
3. Bài luyện trí (não) http://www.mediafire.com/?0sk389cbbzcny8w
4. Bài luyện Phế (phổi): http://www.mediafire.com/?gcoguyf88pxsqyw
6. Bài luyện Luyện Tỳ http://www.mediafire.com/?aaocrd3n7oozc3f

Read more…

Giới Thiệu Về Bộ Môn Khí Công Tâm Linh

03:19 |
Là bộ môn khí công được sáng lập bởi khí công sư, thiền sư Nhật Nguyệt Tuệ Tâm, Khí công Tâm linh là một công pháp rèn luyện đồng thời cả thân và tâm giúp người học có thể cải thiện sức khỏe, đầy lùi bệnh tật, nâng cao nghị lực trí lực, trau dồi đạo đức, lối sống cho con người....

Một số bài viết dưới đây được đăng tải trên trang chủ tukhicongdentamlinh.net và tôi sao chép lưu trữ tại blog này. Mọi thắc mắc liên quan tới quá trình luyện tập các bạn có thể chia sẻ hỏi đáp trực tiếp tại diễn đàn của trang chủ.
Read more…