Vậy mà không phải vậy

20:10 |

“Vậy mà không phải vậy”
Đây là câu nói, câu trả lời của thầy Huệ Tâm mà học trò chúng ta hay nghe được. Thông thường các học trò đưa ra câu hỏi để xin Thầy giải đáp, đó là những thắc mắc được tổng hợp thông tin từ những quan sát trực tiếp, ghi nhận trực tiếp hay những suy luận trong tâm tưởng của mình… Thầy tiếp nhận câu hỏi, rồi nhiều khi Thầy trả lời bằng một câu rất ngắn gọn: “Vậy mà không phải vậy”.

Chúng ta hiểu câu trả lời của Thầy như thế có nghĩa là: hình ảnh đó, sự vật, sự việc đó, con người đó, suy nghĩ đó, tư tưởng đó, lập luận đó…thấy là như thế, nghĩ thì là như thế nhưng thực tế (bản chất) lại không phải như vậy đâu. Câu trả lời có vẻ như không có thông tin gì nhiều, và gần như bị bỏ ngỏ, không phải là Thầy không thể trả lời, hay không muốn trả lời. Mà ở đây có thể coi đó là một câu trả lời mở, để Thầy định hướng, để Thầy gợi ý cho học trò rằng: cứ ghi nhận như thế đi, cứ biết như vậy đi, cứ tìm hiểu thêm đi, cứ suy nghĩ thêm đi…để rồi một ngày chính con sẽ trả lời được câu hỏi đó.

Một câu trả lời ngắn gọn của Thầy nhưng lại chứa đầy tính thiền của đạo Phật, chứa đầy tinh hoa của Trúc Lâm thiền phái trong đó. Câu trả lời mang theo tâm ý của Thầy mong muốn học trò hãy tự tìm để hiểu, tự chứng ngộ được đúng bản chất của sự việc đó. Vốn nó như thế nào thì nó vẫn như thế, hãy bỏ đi những rườm rà của hình tướng, hay những suy luận xét đoán, có-không, đúng-sai. Chúng ta hãy thử liên hệ với tông chỉ của thiền tông Phật giáo: "Bất lập văn tự; Giáo ngoại biệt truyền; Trực chỉ nhân tâm; Kiến tánh thành Phật". 
Vậy mà không phải vậy như là một lời chỉ dạy, gợi ý thẳng vào tâm trí người hỏi: hãy tìm, để hiểu đúng bản chất của sự vật, sự việc.

“Vậy mà không phải vậy” cũng đồng nghĩa với “Không phải vậy mà vậy”. Tức là “không mà có”, mọi người có nghĩ đến điều gì không!?…. “Không mà có” là bí quyết tu tập của Thiền phái Trúc Lâm, được ghi lại trong sách “Định pháp vô minh”. Đây là cuốn sách Tam tổ truyền lại trực tiếp cho Thầy năm 2006. Và đây chính là Y bát của thiền phái Trúc Lâm mà Thầy đang giữ.

Một câu nói, một câu trả lời, một gợi ý từ Thầy, với từ ngữ dễ hiểu, đời thường, tưởng đơn giản mà lại vô cùng huyền diệu. Trong đó chứa đựng đầy đủ những tinh hoa của Thiền tông Phật giáo, những tinh túy đích thực thiền phái Trúc Lâm. Hỏi Thầy – để nhận được sự trả lời, sự định hướng, sự gợi mở từ Thầy - đó là một cách học. Vậy nên nếu có cơ hội, các bạn hãy tranh thủ hỏi Thầy đi. Biết đâu một ngày nào đó chúng ta-một người bình thường như vậy mà lại không phải vậy! Biết đâu…!

Nếu không làm nhanh và làm hết sức cẩn thận việc "hỏi Thầy" này thì rồi sẽ có một ngày "Muốn hỏi mà không được hỏi!".
Read more…

Lược sử Thiền tông Việt Nam

20:03 |
Lời giới thiệu: Là một thiền sinh của đạo Phật có nên chăng chúng ta cũng cần biết, cần hiểu về lịch sử thiền tông, về cội nguồn của con đường tu tập, đặc biệt là về thiền phái mà mình đang theo học. Để từ đó có một cái nhìn, một nền tảng toàn diện hơn, thấu hiểu hơn về con đường mình đã chọn. Bài viết cố gắng mô tả lại một cách ngắn gọn, súc tích nhất về dòng chảy lịch sử của thiền tông Phật giáo Việt Nam qua đời các vị tổ. Trân trọng giới thiệu!

Thiền tông là một trong nhiều pháp môn tu tập của Phật giáo, con đường giúp con người đi đến sự giải thoát tối hậu bằng cách thấu hiểu trực diện bản chất sự vật. Vị khai tổ của pháp môn này chính là Đức phật Thích ca Mâu ni.

Các kinh sách, giáo lý căn bản của thiền tông hay được nhắc đến là: Kinh Lăng già do Tổ Bồ đề Đạt Ma truyền, Tổ Huệ Năng giảng kinh Kim cang. Bộ Pháp Bảo Đàn Kinh tông chỉ thiền Vô Niệm do tổ Huệ Năng khởi xướng, sách Định Pháp Vô Minh bí quyết của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử…

Tông chỉ: Bất lập văn tự, ngoại giáo biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.

Theo các tích truyền lại rằng: Thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, một hôm, đức Phật ở núi Kỳ Xà Quật, cầm một cành hoa đưa lên giữa chúng hội và không nói gì cả. Đại chúng đều ngơ ngác, phân vân không hiểu, chỉ duy nhất có ngài Ma ha Ca diếp mỉm miệng cười. Khi ấy, đức Phật dạy: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết bàn, nay truyền lại cho Ma ha Ca diếp.” Từ đó, ngài Ca diếp nhận lãnh truyền thừa, trở thành tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ. Sau đó thiền tông Ấn Độ truyền đến đời thứ 28, lúc này là tổ Bồ Đề Đạt Ma.

1. Lược sử thiền tông Trung Hoa
Trước khi tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa thì đạo Phật đã du nhập vào đất nước này và phát triển rộng rãi, trong đó có thiền tông. Tuy nhiên, do vấn đề thời gian quá xa, các sách ghi lại không nhiều, mặt khác thiền tông Trung Hoa lại phát triển rực rỡ kể từ khi Tổ Đạt Ma sang truyền giáo, nên lịch sử thiền tông Trung Hoa được chú trọng từ sau thời điểm xuất hiện Tổ Đạt Ma.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa năm 520, có đến gặp vua Lương Võ Đế, nhưng thấy căn khí nhà vua không hợp, ngài lên núi Tung Sơn, vào một hang động ngồi yên lặng trong chín năm. Trong thời gian này có một vị tăng tên Thần Quang tìm đến thọ pháp. Tổ khai ngộ cho Thần Quang, và đổi tên thành Huệ Khả. Về sau, Tổ Bồ đề Đạt ma truyền y bát cho Huệ Khả làm Nhị tổ.

Các đời tổ sư tiếp theo là Tam tổ Tăng Xán, Tứ tổ Đạo Tín, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Lục tổ Huệ Năng. Đến đời Lục tổ, thiền tông Trung Hoa phát triển rực rỡ, kinh sách truyền lại cho hậu thế tới nay cốt tủy là bộ Kinh Pháp bảo đàn- kim chỉ nam cho tất cả những người tu thiền đốn ngộ, hay Vô Niệm thiền.

Từ thời tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền tông Trung Hoa chia ra làm hai phái Nam tông và Bắc tông. Nam tông do ngài Huệ Năng khởi xướng chủ trương pháp thiền đốn ngộ. Bắc tông theo pháp thiền tiệm ngộ, do Đại sư Thần Tú dẫn dắt. Thiền Nam tông do ngài Huệ Năng truyền lại sau này hình thành lên năm phái lớn gồm có các tông Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn.

2. Lược sử thiền tông Việt Nam
Lịch sử thiền tông Việt Nam khởi nguồn rất sớm từ thế kỷ thứ nhất, qua sự truyền bá trực tiếp của các nhà sư Ấn Độ theo con đường giao thương. Đến thế kỷ thứ 2, 3 nhiều chùa chiền đã được xây dựng ở Giao Châu, theo đó kinh điển, giáo lý nhà Phật cũng được dịch ra hán ngữ và phổ biến rộng rãi trong tầng lớp tu sĩ. Người đáng chú ý nhất trong công cuộc truyền bá đạo Phật (trong đó có thiền tông) vào Việt Nam ở giai đoạn này là Đại sư Khương Tăng Hội.

Rất đáng tiếc là, do thời gian quá dài nên hiện tại chưa có chứng cứ cụ thể nào để xác định ngài Khương Tăng Hội khai sơn ở đâu, mở Pháp hội nào, truyền pháp cho ai, có là tổ một tông phái nào không. Tuy vậy Thiền tông Việt Nam vẫn tiếp tục pháp triển trên nền tảng này đến thế kỷ thứ 6 thì xuất hiện Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
a.Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Thiền phái do Đại sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người sáng lập. Ngài là người Ấn Độ sang Trung Hoa học pháp với Tam Tổ thiền tông Trung Hoa: Tăng Xán. Sau đó năm 580, ngài sang Việt Nam, đến chùa Pháp Vân, gặp và truyền pháp cho sư Pháp Hiền. Từ đây thiền tông Việt Nam chính thức có một thiền phái thực sự, kế thừa những tinh hoa của thiền tông đạo Phật. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi kể từ đời Pháp Hiền thì truyền thêm được 18 thế hệ (đến đầu thế kỷ 13).
b.Thiền phái Vô Ngôn Thông
Thiền phái do Đại sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, Trung Quốc là người sáng lập. Ngài ngộ pháp từ Đại sư Bách Trượng (ĐS Bách Trượng đắc pháp với ĐS Mã Tổ, ĐS Mã Tổ đắc pháp với ĐS Hoài Nhượng, ĐS Hoài Nhượng đắc pháp với lục tổ Huệ Năng. Như vậy Đại sư Vô Ngôn Thông thuộc thế hệ thứ 4 kể từ sau Lục tổ Huệ Năng). Năm 820, ngài từ Quảng Châu sang Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Bắc Ninh, truyền pháp cho ngài Cảm Thành. Thiền phái Vô Ngôn Thông bắt nguồn từ đó, truyền được 16 thế hệ (đến cuối thế kỷ 13).
c. Thiền phái Thảo Đường
Thiền phái do Đại sư Thảo Đường là người sáng lập. Ngài là người Trung Hoa, đệ tử của thiền sư Tuyết Đậu (? -1052). Thiền sư Tuyết Đậu, học pháp từ Đại sư Vân Môn (864 – 949) - người sáng lập thiền phái Vân Môn kế thừa dòng thiền Nam tông do Lục tổ Huệ Năng khởi xướng. Xét trên thế hệ truyền thừa thì ngài Thảo Đường thuộc thế hệ thứ 9 của Lục tổ Huệ Năng.

Trong sử có ghi lại, Đại sư Thảo Đường bị vua Lý Thánh Tông bắt làm tù binh, trong lúc đem quân chinh phạt Chăm Pa (năm 1069) và đem về Đại Việt. Sau đó với tài đức của mình, ngài được vua phong làm quốc sư. Từ đó, ngài Trụ trì chùa Khai Quốc tại kinh thành Thăng Long, lập ra Thiền phái Thảo Đường của Việt Nam, kéo dài 6 thế hệ, (đến đầu thế kỷ 13).
d.Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thiền phái do sơ tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông là người sáng lập. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được xem là tiếp nối và hợp nhất của ba dòng thiền đang tồn tại ở Việt Nam trong thế kỉ 12. Đó là dòng Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, và Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Trong đó tư tưởng của dòng thiền Vô Ngôn Thông có sự ảnh hưởng trực tiếp hơn cả, thông qua các vị Đại sư Thường Chiếu (đời thứ 12 thiền phái Vô Ngôn Thông), rồi các vị Hiện Quang, Đạo Viên, Đại Đăng, Tiêu Diêu, Huệ Tuệ, Tuệ Trung…Các vị tổ kế tục là Đệ Nhị sư tổ Pháp Loa, đệ tam sư tổ Huyền Quang. Sau đời đệ tam sư tổ thiền phái còn kế tục thêm được 17 đời (đến cuối thế kỷ 17), rồi ngắt quãng đến đầu thế kỷ 21.

Trước đó, vào cuối thế kỷ 20, nhiều thiền viện mang hình ảnh thiền phái được xây dựng và thành lập, giúp cho việc phục hồi quảng bá dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử tới đại chúng.

Năm 2006, Y bát của thiền phái đã được truyền lại cho thiền sư Nguyệt Quang Tử, với sách “Định Pháp Vô Minh” nơi chứa bí quyết của thiền phái.

Thiên thu nay đã thỏa ước nguyền
Gươm thiêng trao trọn với niềm tin,
"Định pháp vô minh" ta truyền lại,
Cho con giữ mãi một đức tin
(Đệ nhất sư tổ TNT)
e. Thiền phái Lâm Tế
Vào khoảng nửa cuối thế kỷ 17, có một vị đại sư tên Minh Hoằng Tử Dung (đời thứ 34 dòng Lâm Tế), người Quảng Đông, Trung Quốc, đến khai sơn chùa Ấn Tôn ( nay thuộc thành phố Huế). Sau đó ngài đã truyền thiền cho đại sư Liễu Quán vào năm 1708. Từ đấy đại sư Liễu Quán (?-1793) chính thức là Tổ của dòng Lâm Tế Việt Nam, thuộc thế hệ 35 dòng Lâm Tế Trung Hoa. Đến nay, thiền phái này vẫn tồn tại ở miền Trung Việt Nam.
f. Thiền phái Tào Động
Tổ Thiền phái Tào Động Việt Nam là Đại sư Thủy Nguyệt (1636 – 1704), quê ở Thái Bình, sang Trung Quốc tu học. Đến năm 1667, sau ba năm ở Trung Quốc, ngài về nước, trú tại chùa Vọng Lão, huyện Đông Triều, Hải Dương. Đại sư thành lập Thiền phái Tào Động, phát triển mạnh mẽ hơn 100 năm. Đến ngày nay vẫn còn khá nhiều chùa và chư Tăng Ni thuộc Thiền phái Tào Động ở nhiều tỉnh thành ở miền Bắc.

Thiền tông Phật giáo nói chung và thiền tông Việt Nam nói riêng, đã trải qua một bề dày phát triển của lịch sử, từ thời Đức Phật còn tại thế tới nay đã hơn 2500 năm, vẫn chứng tỏ một sức sống trường tồn. Thiền giáo đã chỉ ra một con đường tu tập tâm linh, giúp hành giả tiến bộ trên con đường phát triển linh hồn của mình. Hy vọng rằng những thế hệ thiền sinh kế tục sẽ hoan hỷ nối tiếp dòng chảy bất tận của Thiền tông, của các vị tổ và mang được những giá trị đích thực của thiền vào cõi nhân sinh.

Tài liệu tham khảo và trích dẫn:
Đoàn Trung Còn, hiệu đính Nguyễn Minh Tiến, Các tông phái Đạo Phật, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
Thích Phước Đạt, Lịch sử truyền thừa -Thiền phái Trúc Lâm. 
Trần Tuấn Mẫn, Thiền tông Việt Nam.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận I-II-II, Nhà xuất bản Văn Học, 1979.
Thích Phước Sơn, dịch và chú giải, Tam tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995.

Thích Thanh Từ, Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Thiền viện Thường Chiếu, 1997.
Trang bách khoa toàn thư mở 
https://vi.wikipedia.org.
Read more…

Khí công huyền diệu

20:13 |

1. Khí công huyền diệu

2. Xua tan mây mù, diệt trừ vi khuẩn

3. Huyền thoại Nghiêm Tân - Khí công hay trường sinh học

4. Nhà khí công và võ sĩ quyền anh

5. Thò tay vào vạc dầu sôi

Khí công là một thuật dưỡng sinh, một dạng tu dưỡng tinh thần và luyện tập thể dục đặc biệt, đã có khoảng 2000 năm ở Trung Quốc. Những người luyện tập khí công thành đạt trở thành những người có khả năng siêu phàm. Họ có thể phi thân, nhìn xuyên suốt cơ thể con người, "phát công" làm di chuyển đồ vật, thay đổi thành phần hoá học của vật chất và chữa bệnh không cần thuốc mang đầy tính huyền thoại, nhưng lại là một thực tế.

Khí Công Huyền Diệu

Nhiều cơ sở y tế ở Trung Quốc có khoa dùng khí công để chữa bệnh, để gây tê khi mổ; nhiều đơn vị an ninh dùng người có năng lực ngoại cảm đặc biệt để khám phá ra nhiều vụ án quan trọng... nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học, hội nghiên cứu khí công học ở trung ương và nhiều thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh, Quảng Châu... được thành lập.

Hàng loạt "siêu nhân" nam, nữ về khí công có dịp biểu diễn công khai ở nhiều nơi, nhiều lần, trước đông đảo người xem trong nước và nước ngoài.

Trương Bảo Thắng là người thành phố Bản Khê, tỉnh Liêu Ninh, là một trong các "siêu nhân" đó.

Thuở nhỏ Trương Bảo Thắng đã có khả năng đặc biệt. Trong lớp học, ai mất gì, như bút chì, bút máy, khăn tay... cứ tả đặc điểm, màu sắc cho anh ta biết là anh có thể nói ra vật ấy đang ở đâu hoặc do ai lấy một cách tuyệt đối đúng. Bạn học gọi đùa anh là "thần trinh sát nhỏ tuổi." Nhưng thầy giáo thì nghi ngờ: Anh ta không ăn cắp thì làm sao biết rõ ràng như thế? Anh chỉ được được học tới hết bậc tiểu học thì phải thôi. Lớn lên anh làm giao thông - liên lạc tại một mỏ ở Bản Khê. Một hôm phát thư cho một chàng trai, Bảo Thắng nói: "Người yêu của anh mời đi xem chiếu bóng đây này!" Tưởng Bảo Thắng nói đùa, chàng trai bóc thư ra xem thì đúng là như thế. Nghĩ rằng Bảo Thắng đã bóc trộm thư của mình ra xem, chàng trai liền báo với trưởng ban bảo vệ và tố cáo rằng Trương Bảo Thắng đã vi phạm hiến pháp, xâm phạm thư tín của công dân. Trương Bảo Thắng được mời đến. Anh phân trần rằng không bóc trộm thư mà chỉ vô tình nhìn thấy khi cầm đến thư, và mau mồm mau miệng nói với chàng trai kia biết. Không tin lời anh, trưởng ban bảo vệ kiểm tra ngày khả năng đọc thư qua phong bì của anh bằng cách lấy ngay một công văng còn niêm phong kỹ, giao cho anh, bảo anh đọc. Anh nhìn qua một lát anh cho biết công văn nói về chủ trương sinh đẻ có kế hoạch, mỗi gia đình chỉ nên có một con. Công văn được bóc ra: nội dung đúng như Trương Bảo Thắng vừa nói. Thế là từ "phạm nhân", trở thành "kỳ nhân" của mỏ, của cả vùng, rồi của cả nước.

Viện y học Trung Quốc tỉnh Liêu Ninh mời anh đến làm thực nghiệm khoa học. Chỉ học đến tiểu học, vả lại không biết gì về y lý Trung Quốc, nhưng tại đây anh có thể nhìn thấy rõ hướng vận động của mạch ẩn sâu trong cơ thể người mà y học Trung Quốc gọi là các kinh và lạc. Các chuyên gia của Viện ghi chép lại, rồi so sánh với những điều miêu tả trong các sách kinh điển thì thấy hoàn toàn giống như vậy, không những thấy kỳ tài của người xưa mà còn thấy cả khả năng kỳ lạ của Bảo Thắng. Trương Bảo Thắng còn có thể thấy màu sắc của kinh và lạc, thậm chí màu sắc kinh lạc, ở từng người: xanh, vàng, hồng. Trước đây, có giáo sư đã dùng phương pháp truyền âm để nghiên cứu sự lan truyền của tính hiệu âm thành qua kinh lạc nhưng mới chỉ quan sát thấy được một đoạn thuộc tứ chi người thường. Tham gia quan sát, anh đã nhìn thấy sự lan truyền ấy, cùng phương hướng của nó ở các bộ phận khác, theo kinh lạc, nhìn thấy rõ ràng lục phủ, ngũ tạng.

Một lần đến công viên Bắc Lăng ở thành phố Thẩm Dương, bước tới gần tấm bia "hạ mã" cũ còn lại, anh nhìn tấm bia một lát rồi nói với một giáo sư đi cùng: "Dưới bia, có tiền đồng!" Nghe thấy thế, vị giáo sư kia tỏ vẻ không tin và nói: "Tôi chỉ tin khi ông có cách gì lấy được tiền đồng lên đây." Bảo Thắng lẳng lặng "phát công" (sử dụng năng lượng ngoại cảm của mình), đưa tay ra trước mặt, một lát sau: hai đồng tiền cổ, xanh gỉ có vết đất, nằm trong tay!

Việc chỉ dùng ý chí mà thu được những vật thật đã xảy ra ở Trương Bảo Thắng từ khi còn nhỏ tuổi. Hồi ấy, một lần theo cha đi chợ huyện, anh thấy người cha nhìn hàng thịt rất lâu, rồi thở dài, kéo con đi. Chắc chắn là không đủ tiền mua, hai cha con trở về, tay không. Ngờ đâu, đến giữa đường về, người cha thấy tay Trương Bảo Thắng cầm một miếng thịt, nặng đến 5 cân (bằng 2,5 kg). Nổi giận, ông tát cho con một cái nên thân và mắng:

- Ðồ súc sinh, mày ăn cắp của người ta à?

Trương Bảo Thắng oà lên khóc, kêu oan, kể rằng: Biết cha muốn mua thịt nhưng không đủ tiền nên anh đã nảy ra ý muốn có một miếng thịt, và thế là nó đã đến tay anh, chứ anh hoàn toàn không ăn cắp.

Còn ngày nay thì Trương Bảo Thắng có thể ra lệnh cho mọi vật xuyên qua giấy, vải, thủy tinh, ván gỗ, thậm chí cả tường bê tông mà không gây ra vết tích để đến tay anh, trước mặt mọi người.

Trong nhiều lần vui đùa, anh đã cho bạn bè thấy: anh có thể ngồi trong nhà mà làm cho một loạt giày dép để ở cửa "bay" ra bãi cỏ ngoài cổng, làm cho chùm chìa khoá trong túi một bạn "vọt" ra ngoài, đến tay anh; mượn của phòng bên một cái phích mà không cần mở cửa vào, rồi vẫn ngồi nguyên tại chỗ trả lại cái phích vào chỗ cũ. Bạn bè làm một thí nghiệm: Buộc một chiếc chìa khoá vào một cái chuông con và yêu cầu anh di chuyển nó đến một nơi tuỳ ý (làm như thế để dễ phát hiện). Trương Bảo Thắng nhận thí nghiệm, cầm chìa khoá và chuông trong tay, chẳng nói chẳng rằng. Ngồi nói chuyện một lát sau, anh mở tay ra cho mọi người xem: chìa khoá và chuông đã biến mất. Hỏi nó đang ở đâu, anh bảo: ở trong một cái ngăn kéo gần đây. Mọi người kinh ngạc mở ngăn kéo: quả nhiên có chiếc chìa khoá buộc cùng chiếc chuông và càng kinh ngạc hơn khi thấy có thể dùng ý chí điều khiển vật thể xuyên qua gỗ chắc, không có tiếng động, không gây tổn hại, trước sự chứng kiến của nhiều người.

Trong điều kiện giám sát chặt chẽ của nhiều người, Trương Bảo Thắng có lần ngồi tại chỗ mà đưa một bao gạo nặng khoảng 50 kg từ nhà bên sang phòng đang ngồi mà không hề mở cửa, đục tường...

Giải thích các hiện tượng như trên, người ta cho rằng đó là do anh đã "phát công" để điều khiển sự vật. Cũng bằng cách "phát công" như thế, Trương Bảo Thắng có thể đang ngồi xem chiếu bóng, biến phim màu thành phim đen trắng, hoặc phim đen trắng thành phim trắng toát.

Một lần, công diễn ở Quảng Châu, Trương Bảo Thắng đã chứng minh khả năng kỳ diệu của mình qua những việc như:

- Có thể lấy một tấm giấy bạc (trong thí nghiệm là tiền giấy Áo Môn, tức Ma Cao) đã đặt trong một phong bì niêm phong kỹ, do một khán giả bất kỳ giữ, tấm giấy bạc ấy đúng về cả những chữ số đã in trên đó, lẫn chữ ký, dấu hiệu của người có tiền, và trao lại cho chủ của nó; cho một chút đường vào phong bì đựng tiền nói trên mà không ái biết; đọc được chữ viết trên mẫu giấy người ta đặt trong phong bì đó (những chữ ấy là: Hoan nghênh Trương Bảo Thắng).

- Có thể lấy được những viên thuốc trong một cái lọ gắn xi, ở trong tay một người được ban tổ chức mời, mà lọ và niêm phong còn nguyên vẹn sau đó lại trả lại vào lọ những viên thuốc đã lấy ra; hoặc lấy ra rồi cho vào lọ đã gắn xin một cánh hoa, một mảnh giấy, một cái kẹo...

- Làm nguyên vẹn lại một tấm danh thiếp, có mang chữ ký của người có tên trên bưu thiếp sau khi đã nhờ một người tình nguyện nhai nát tấm danh thiếp đó. Khi nhận phần bột nhão đã nhai từ tấm danh thiếp, Bảo Thắng hai lần cho biết còn thiếu, người tình nguyện đã tìm thấy một mẫu vụn đánh rơi, và lần sau một chút còn dính ở răng!

Xưa nay, người ta vẫn coi đây là chuyện thần thoại. Nhưng bấy giờ, ở Trung Quốc, người ta lại đang chú ý nghiên cứu hiện tượng lạ này ở Bảo Thắng. Hồi nhỏ, gia đình túng bấn có lần không có tiền lấy vé, Trương Bảo Thắng nảy ra ý muốn cùng các bạn vào rạp chiếu bóng xem sao. Bảo Thắng làm cho người soát vé lú lẫn đi bằng ý chí của mình rồi đàng hoàng bước vào rạp chiếu bóng. Có điều anh ta không bao giờ dùng năng lực này cũng như khả năng thu được vật do ý chí, để làm việc xằng bậy. Từ khi nổi tiếng, anh ra sức luyện tập phương pháp này.

Một lần, một trường đại học ở Ðông Bắc làm thí nghiệm về khả năng này của anh. 40 sinh viên lanh lợi được giao nhiệm vụ canh gác tất cả các cửa ra vào và cửa sổ của hội trường thí nghiệm (có mời nhiều người đến dự để chứng kiến). Hết sức canh giác, các sinh viên này quyết "không để một lỗ nhỏ sơ hở". Có ngờ đâu, anh đã vào hội trường, lúc nào mà họ không hề biết.

40 sinh viên này chưa chịu, cho rằng Trương Bảo Thắng "có lẽ" lọt qua cửa thông gió ở nhà xí. Và thế là họ xin thử lại; lần này, họ tăng thêm người, cử người gác cả nhà xí, bên nam cũng như bên nữ. Sau khi có hiệu lệnh "Bắt đầu", Trương Bảo Thắng vẫn đứng nói chuyện bình thường với một số người ở cửa ra vào. Nhưng rồi người ta không thấy anh đâu nữa. Thì ra, anh đã lọt qua "bức tường người" bằng phép tàng hình ("phép che mắt") của anh và vào hội trường.

Xua Tan Mây Mù, Diệt Trừ Vi Khuẩn

Các nhà khí công có thể phát "ngoại khí" tác động tới khí hậu, điều tiết mưa gió. Những đêm nhiều mây, có người phát công lên trời, có thể làm mây tản ra, ánh trăng bừng sáng. 21 giờ ngày 14-9-1986, khi lớp khí công ở Trường tiểu học số 1 Bắc Kinh do thầy giáo Vương Lực thuộc phái "Ðạo gia long môn" phụ trách vừa kết thúc buổi học, học viên chuẩn bị rời trường, thì trời bỗng nổi sấm chớp, những hạt mưa to rơi lộp bộp, một trận mưa lớn sắp bắt đầu. Vương Lực liền đứng giữa sân trường phát công lên trời, một lát mưa ngừng rơi, sấm chớp không còn nữa. Một giờ sau Vương Lực đoán học viên đã về nhà, liền "thu công". Bầu trời lại nổi sấm chớp, mưa mỗi lúc một to.

Trong các tối 29-11-1982, 9-9-1984, 10-2-1985, 15-9-1986, tại 4 địa điểm khác nhau ở Thượng Hải và trước sự chứng kiến của các nhóm người khác nhau, Toàn Quan Lương đã nhiều lần phát công lên bầu trời đầy mây, đều có thể làm mây tản ra, mặt trăng toả sáng.

Nghiên cứu khí công ở Trung Quốc hiện nay đã lan sang ngành trồng trọt. Viện trưởng "Viện khoa học nhân thể" tỉnh Vân Nam là Vương Gia Lâm năm 1982 đã dùng khí công xử lý giống nấm Nhật Bản. Nhóm nấm đối chiếu chiếc lớn nhất nặng 1kg, bình thường 0,5 - 0,8 kg. Nhóm nấm xử lý khí công chiếc lớn nhất nặng 2,52 kg, bình thường 2 kg. Theo tự liệu Nhật Bản, giống này qua xử lý tia laser chiếc lớn nhất chỉ có 1,6 kg. Nấm hương và mộc nhĩ là hai loại thực vật mà khả năng kháng khuẩn mốc xanh tương đối kém. Trong điều kiệm bình thường, chỉ trong 24 giờ đã nhiễm khuẩn. Nhưng mộc nhĩ và nấm hương qua xử lý "ngoại khí", sinh trưởng hơn 60 ngày vẫn chưa nhiễm khuẩn.

Từ hàng ngàn năm trước đây, người ta đã biết sử dụng "khí" - khái niệm gắn liền với võ thuật - như một phương tiện kỳ diệu nhằm tăng cường, rèn luyện sức khoẻ và chữa bệnh dưới tên gọi quen thuộc: liệu pháp khí công. Những thành công rực rỡ của các nhà khí công nổi tiếng đương đại như Nghiêm Tân, Vương Lực Bình... là những bằng chứng hiển nhiên về sự tồn tại của "khí". Ít "khí" chẳng những không thể nhìn thấy bằng mắt thường mà ngay cả với các dụng cụ vật lý tinh xảo cũng chưa xác định được rõ ràng. Ðến nay, đã và vẫn đang có rất nhiều cuộc tìm kiếm, tranh cãi với mong muốn phát hiện sự thật về "khí".

Ðối với các nhà ngoại cảm thì "khí" không phải là cái gì đó siêu hình, thần bí, ngược lại, hoàn toàn có thể nhìn thấy rõ ràng, có thể nắm bắt, điều khiển được. Nhờ sự giúp đỡ của họ, các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nhiều thí nghiệm nhằm xác định bản thể vật lý của "khí". Theo các nhà ngoại cảm, "khí" không những chỉ tồn tại trong con người mà có mặt ở khắp nơi, cả trong đất, trong các sinh vật cỏ cây với muôn hình muôn vẻ khác nhau. Khi theo dõi một võ sư phát công, họ thấy những dòng khí mảnh phát ra với màu sắc rực rỡ, chúng có khả năng xuyên qua cả những vật chắn dầy. Ở những người luyện tập khí công lâu năm, ngay cả trong trạng thái bình thường, "khí" cũng toả ra tự nhiên trên đầu như những vầng hào quang mang sắc màu cầu vồng. Ðộ sáng và chiều cao của các vầng hào quang tỉ lệ thuận với tài năng và thời gian, công phu luyện tập của các võ sư. Ðối với những người mới tập đôi khi cũng có vầng hào quang tương tự song màu sắc rất mờ nhạt, hình dạng khó nhận thấy. Những nhà nghiên cứu còn nhận ra giữa màu sắc các quầng sáng và trạng thái tâm lý tình cảm của người đó có một mối liên hệ rõ rệt. Ðất và các loại hoa cỏ cũng chứa trong nó vô số các loại "khí" có màu trắng hoặc tươi snng, đều là "thanh khí", có tác dụng tốt đối với cơ thể con người, còn các loại khí màu sẫm, hay đen (hắc khí) có tác dụng ngược lại. Trao đổi "thanh khí" với môi trường bên ngoài là biện pháp tốt để tăng cường sức khoẻ.

Khí phân bố trong khắp cơ thể con người theo các đường dây gọi là những mạch kinh lạc mà nơi tiếp nối với bên ngoài là các huyệt. Đó là một bức tranh minh hoạ cho thể trạng sức khoẻ của mỗi người. Màu trắng nhạt của các đường kênh này chứng tỏ sự khoẻ mạnh của cơ thể. Còn nếu một bộ phận nào đó đường kinh lạc đổi màu (chuyển thành màu sẫm hoặc xỉn đen) thì biểu hiện sự trục trặc về bệnh lý tại nơi đó hoặc trạng thái tâm thần "có vấn đề". Bệnh càng nặng thì màu sắc "khí" càng thẫm. Khi ấy, biện pháp chữa trị hữu hiệu nhất là thay thế phần "hắc khí" bằng phần "thanh khí" mới nhờ trao đổi với môi trường bên ngoài thông qua sự giúp đỡ của các nhà khí công, ngoại cảm.

Vậy thực chất "khí" là gì? Theo các nhà khoa học, đó là một dáng vật chất đặc biệt, mang đầy đủa các đặc tính của vật chất thông thường. Chúng tuân theo nguyên lý "bảo toàn"... không tự nhiên sinh ra mà cũng không tự nhiên mất đi, chỉ chuyển tự dạng này sang dạng khác hoặc truyền tự vật này qua vật khác... Có thể hình dung chúng một cách gần gũi với các vật chất dạng "trường". Các nhà khí công, bằng biện pháp phát công theo nguyên tắc "ý khiển khí" đuổi "hắc khí" ra khỏi cơ thể người bệnh và thế chỗ bằng "thanh khí" của mình (dùng ngoại khí). Cũng có thể thực hiện điều này bằng cách trao đổi khí với các cây cỏ mang khí lành bên ngoài có khả năng dễ cho (nhận) khí. Tập khí công bền bỉ, làm cho khí được lưu thông thường xuyên, kích thước các mạch kinh lạc tăng thêm, sức khoẻ con người sẽ được tăng cường một cách đáng kể và đôi khi cả trạng thái tâm tính bẩm sinh cũng sẽ đổi thay.

Lý thuyết mà các nhà khoa học đưa ra trên đây đã được minh chứng rất cụ thể qua nhiều ca điều trị bệnh lý đạt kết quả tốt bằng liệu pháp khí công. Song công việc chưa phải là kết thúc mà còn đòi hỏi sự tiếp cận theo hướng có chiều sâu hơn, tương ứng với các cội rễ của khoa học và triết học phương Đông cùng với bao nhiêu hiện tượng kỳ bí khác còn chưa được giải thích.

Ngày 22-12-1986, tuyết rơi đầy trời Bắc Kinh, rét 5 độ âm. Danh Sinh mặc phong phanh, đi bộ đến trường đại học Thanh Hoa. Anh được mời đến với danh nghĩa cố vấn thứ nhất Hội "khí công". Và tại đây, các nhà bác học của trường đã mời anh tham gia vào một cuộc thử nghiệm kỳ lạ...

Người ta trao cho Danh Sinh hai bình thí nghiệm trong đó đựng một hỗn hợp khí hyđrô và ôxít cácbon. Theo nguyên tắc, phản ứng hoá học của hỗn hợp chỉ bắt đầu xảy ra dưới áp lực 30 át-mốt-phe và ở nhiệt độ trên 280 độ C hoặc dưới tác động cúa chất xúc tác. Lúc này, áp lực trong bình là 1 át-mốt-phe, còn nhiệt độ trong phòng là 13 độ C. Danh Sinh nhìn vào bình thí nghiệm một lát và nói:

- Tôi đã tác động xong. Có thể bắt đầu thử nghiệm.

- Có thật không? Bởi vì tất cả diễn ra trong chưa đầy một phút - Các giáo sư tỏ ra nghi ngờ.

Danh Sinh cười nhắc lại:

- Đã xong rồi...

Lúc này các giáo sư mới đi vào phòng thí nghiệm của khoa hoá.

Năm phút trôi qua. Trên màn display xuất hiện một biểu đồ đo máy tính điện tử ghi lại xác định phản ứng hoá học đã xảy ra. Thật kỳ lạ: trong điều kiện bình thường dưới tác dụng của ngoại khí, phản ứng hoá học đã xảy ra. Tiếp đó các cán bộ phòng thí nghiệm đã đề nghị Danh Sinh tiến hành tác động ngoại khí vào các vật chất như dung dịch sinh lý học, dung dịch glu-cô, kháng sinh, nhưng ở khoảng cách tăng dần từ một vài mét đến hai nghìn ki-lô-mét. Các thí nghiệm diễn đi diễn lại đến 10 lần trong một tháng, và việc tác động được tiến hành trên 7-8 chế phẩm mà thành phần hoá học của nó dưới tác động của ngoại lực "khí" đã thay đổi rất rõ rệt.

Ngoại lực "khí" có khả năng làm xảy ra các phản ứng hoá học.

Trong cơ thể con người, nước chứa tới hơn 65%. Các nghiên cứu khẳng định rằng, ngoại "khí" cũng tác động được vào lượng nước đó trong con người. Nó có thể điều chỉnh và làm thay đổi quá trình sinh hoá trong cơ thể người bệnh, đó cũng chính là nguyên tắc chữa bệnh bằng khí công của Danh Sinh. Mời các bạn hãy chứng kiến một buổi chữa bệnh của Danh Sinh.

Vào một ngày tháng 6, sân vận động "Sao-đu" ở Bắc Kinh chật ních người xem. Lúc này, một thanh niên gầy gò, vẻ mặt nghiêm nghị bước ra. Anh chỉ nói mấy lời ngắn gọn, lập tức sân vận động im phăng phắc.

Nhiều người vô cùng ngạc nhiên. Sức mạnh nào trong những lời nói đó bắt hàng vạn con người phải im bặt? Đó chính là nguồn năng lượng mà nhà khí công nổi tiếng Danh Sinh đã phát ra.

Sau đó, khi anh bắt đầu tiếp tục nói, trong khán giả có người bỗng nhiên cất tiếng hát, những người khác thì nhảy múa, ai đó nữa thì nức nở khóc hoặc cười hô hố, nghiên bên này, đảo bên kia - nghĩa là tất cả đều biểu hiện một hành động gì rất kỳ lạ.

Danh Sinh đã nói chuyện liền 5 giờ đồng hồ. Trong thời gian đó, khán giả không một người nào đứng dậy đi tiểu tiện, không ai bỏ ra ngoài, không ai muốn ăn, uống gì cả... Về sau, người ta biết rằng, tất cả những điều đó là do tác động năng lượng tâm lý của nhà khí công Danh Sinh.

Danh Sinh bắt đầu tập khí công từ lúc còn nhỏ. Sau khi tốt nghiệp Viện Y học Trung Quốc ở thành phố Tren-du, Danh Sinh đã kết hợp thành co6ng y học Trung Quốc, khí công và khả năng năng lượng sinh học của mình, chữa được nhiều bệnh nặng và nan y. Hàng nghìn người bệnh từ trong nước và nước ngoài đã tìm đến Danh Sinh. Danh Sinh đã biểu diễn trước hàng nghìn khán giả phương pháp chữa bệnh nguyên thủy do anh áp dụng, đó là phương pháp chữa bệnh từ xa mà ta còn gọi là thần giao cách cảm.

Huyền Thoại Nghiêm Tân - Khí Công Hay Trường Sinh Học

Ở Trung Quốc những năm gần đây, phong trào tập khí công phát triển rất nhanh, đồng thời cũng lưu truyền nhiều chuyện kỳ lạ về việc các nhà khí công phát "ngoại khí" chữa bệnh. Trong đó nổi bật là huyền thoại về phương pháp dùng "ngoại khí" chữa bệnh của nhà khí công bác sĩ Nghiêm Tân, 39 tuổi (1989).

Nghiêm Tân sinh trưởng ở một làng nhỏ miền núi, cây xanh, nước trong, thuộc huyện Giang Dân, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nghiêm Tân có vóc người nhỏ nhắn, dung mạo bình thường, là con thứ của một gia đình có truyền thống thượng võ. Từ nhỏ Nghiêm Tân đã yêu thích quyền cước.

Một chuyện kỳ lạ đã đưa Nghiêm Tân đến với khí công. Vào năm bốn tuổi, một hôm bé Nghiêm Tân đang nô đùa với bọn trẻ trong rừng, bất ngờ gặp một người đàn ông trung niên. Với một thứ khinh công tột đỉnh, chỉ trong nháy mắt, ông đã biến mất, nhìn khắp bốn bề đều không thấy bóng hình, như đã bay lên trời cao hay biến vào lòng đất vậy. Thế rồi, chỉ trong thoáng chốc ông lại đột ngột biến ra, đứng trước bọn trẻ đang ngơ ngác. Bé Nghiêm Tân nhìn đến ngây người và cứ níu lấy ông đòi học võ. Cuối cùng vị cao thủ võ lâm, ẩn cư tu thân luyện công nơi núi rừng sâu ấy đã nhận cậu bé bốn tuổi này làm đệ tử. Ông đã cấm Nghiêm Tân tiết lộ thân thế bí ẩn của mình.

Dưới sự chỉ dẫn của sư phụ, Nghiêm Tân tĩnh tâm học khí công. Ba, bốn năm trôi qua dần dần cậu bé cảm thấy xương cốt thần kinh và máu thịt trong người như thay đổi hẳn. Dòng máu trong thân thể Nghiêm Tân như sôi bỏng, hai bàn tay nóng ran rát. Ngày thường luyện công trong phòng, mắt không chút nhìn xiên, nhưng toàn thân Nghiêm Tân như đã bay ra khỏi, ra tới cánh đồng quang đãng. Khi nhắm mắt ngưng thần, trước mắt thấy nổi lên lớp lớp ánh sáng trắng loang loáng. Ánh sáng qua đi, trong đầu hiện ra hình dáng những đồ đạc bày trong phòng như bàn, ghế, giường tủ v.v... không bao lâu lại sinh ra những dải sóng óng ánh các màu. Sư phụ bảo đó là kết quả do chuyên tâm chú thần công lực đã thăng hoa mà đạt được.

Năm tám tuổi, nhờ cha thân chinh đến cầu xin, Nghiêm Tân lại được một nhà khí công lừng danh là Hải Đăng pháp sư, vui lòng truyền dạy bí pháp.

Hải Đăng pháp sư là bậc võ lâm lão tiền bối, võ nghệ tinh sâu, công lực phi phàm và cực kỳ nghiêm khắc đối với các đệ tử của mình. Theo tông phái của Hải Đăng pháp sư, Nghiêm Tân nhập môn, nhập đạo, được học tập một cách hoàn chỉnh các môn. Vân thông khí công, Đạt ma khí công, Thiếu lâm khí công, Thiếu niên tinh quyền, Tỉnh lã là quyền (bao gồm đường quyền từ thứ năm đến thứ chín của phái Thiếu Lâm). Hình ý quyền, La Hán quyền, rồi đao thương, kiếm, côn, kích, roi v.v... đa ban võ nghệ. Tiếp sau đó, Nghiêm Tân lần lượt luyện công học nghệ với hơn hai mươi vị sư phụ, họ hoặc là võ lâm đại sư, hoặc là khí công đằng gia, hoặc là những cao thủ trong người nắm những tuyệt chiêu thần kỳ của chư gia môn phái. Nghiêm Tân nghiền ngẫm, trau dồi những sở trường, thế mạnh của từng môn phái và dần dần hình thành công phu đặc sắc độc đáo của bản thân.

Khi luyện công, Nghiêm Tân chọn giờ Tý và giờ Dần theo học thuyết "tý ngọ lưu chú" trong y học cổ truyền Trung Quốc, vào giờ Tý và giờ Dần, khí huyết trong cơ thể con người đặc biết thịnh vượng, luyện công vào giờ khắc đó sẽ có thêm tác dụng đòn bẩy. Nghiêm Tân thường luyện công trong rừng, trên núi, ở những vùng gần mạch nước là những nơi có địa từ mạnh, mượn ngoại lực của địa từ trường trợ lực, có thể thúc đẩy nội khí tăng trưởng.

Để đạt tới đỉnh cao trong võ công, Nghiêm Tân ghi lòng tạc dạ giáo huấn của sư phụ, giữ nghiêm "Thất giới" (tức là bảy điều kiêng kị). Ngoài kiêng rượu, sắc, tài, khí còn kỵ ngôn (không xuất ngôn hại người), kỵ ngủ (đêm luyện công vào giờ Tý, buổi sáng lại phải dậy sớm vào giờ Dần để luyện công, rất ít ngủ). Đồng thời Nghiêm Tân quanh năm ăn chay, kiêng mỡ, lỵ tanh. Năm mười một tuổi, khi nhắm mắt phát công, những vật thể trước mắt nổi rõ trong đầu với hình khối và màu sắc hoàn toàn giống và rõ như đang mở mắt nhìn. Khi công phu đã thâm hậu, nhắm mắt phát động, Nghiêm Tân đã có thể thấu thị xuyên suốt cơ thể con người, không chỉ "thấy được" hình dáng bên ngoài, mà còn "thấy được" cả xương cốt máu xám, dây thần kinh phát sáng và dòng máu mầu sẫm đang tuần hoàn trong huyết quản.

Năm mười ba tuổi, Nghiêm Tân đã có khả năng phát ra ngoại lực để chữa bệnh cho con người. Năm đó Nghiêm Tân trở thành học trò của lão y sư Trịnh Bá Chương, một thầy thuốc có tiếng tăm trong giới đông y Trung Quốc. Năm 1974, Nghiêm Tân thi vào Học viện y khoa Thành Đô, đi sâu học tập một cách hệ thống kiến thức lý thuyết và thực hành của Đông y và Tây y. Năm tháng trôi qua, Nghiêm Tân đã tập hợp được trong mình những hiểu biết y học, võ thuật, khí công và nhiều công năng đặc dị khác, rèn luyện đạt tới một bản lĩnh kỳ diệu, một tài năng chữa bệnh thần kỳ. Trở thành một thầy thuốc hành nghề giữa dân gian, ông làm được những kỳ tích con người khó tưởng tượng nổi, được thiên hạ to6ng xưng là "Thiên phủ thần y, Hoa Đà tái thế".

Khí công chữa bệnh mang đầy sắc thái truyền kỳ, nhưng lại là một sự việc có thật trong cuộc sống hiện nay ở Trung Quốc, mà Nghiêm Tân là một sự thật sinh động. "Huyền thoại" về Nghiêm Tân có rất nhiều, chúng tôi xin nêu ở đây một vài câu chuyện "người thật việc thật".

1. Chữa đau bụng và giải độc

Năm 1978, tại công trường mở rộng nhà ga xe lửa Thành Ðô, một người thợ trẻ đột ngột bị đau bụng dữ dội, cơn đau dồn dập làm anh ta lăn lộn giãy giụa dưới bùn đất, mồ hôi lạnh vã ra nhễ nhại. Vừa lúc ấy Nghiêm Tân đi qua, tình cờ nhìn thấy liền bảo học trò là Trần Bang Vinh lấy một cốc nước, tự tay Nghiêm Tân đưa cho người thợ trẻ, như một chuyện thần kỳ, sau khi uống hết cốc nước, anh dứt hẳn cơn đau và đứng ngay dậy xúc động lẩm bẩm: "Hôm nay gặp được Tiên Phật rồi". Thật ra đối với Nghiêm Tân đó là chuyện bình thường, nước thường hoặc rượu bia, Nghiêm Tân đều có thể dùng để chữa bệnh; thậm chí chỉ với một nhánh cỏ xanh ven đường, cũng cứu nổi mạng sống con người.

Một ngày năm 1983, có một phụ nữ ở Cẩm Dương, gặp bê bối trong việc gia đình, nghĩ bế tắc, uống thuốc trừ sâu tự tử, lúc được phát hiện thì đã ở trong tình huống nguy kịch. Người nhà cuống quít vội đưa chị đi bệnh viện, trên đường thật may vừa đúng gặp Nghiêm Tân ông liền điểm huyệt và vận khí phát công cấp cứu, chỉ trong phút chốc người đàn bà ấy nôn thốc nôn tháo, rồi hồi tỉnh dần. Nghiêm Tân nhổ mấy nhánh cỏ xanh ven đường, dùng tay vò qua rồi bảo người phụ nữ nhai nuốt, chỉ với chừng ấy thôi, đã cứu sống một mạng người.

2. Chữa gãy xương

Công lực của Nghiêm Tân có thể làm cho xương cốt bị gẫy vụn rồi trở thành lành lặn như nguyên. Vào khoảng mười giờ sáng ngày 27-4-1984, một công nhân trẻ của nhà máy thép Trùng Khánh tên là Túc Bình, bị tai nạn giao thông. Chiếu X quang ở bệnh viện cho biết: Hai xương bả vai bị gãy rời, vỡ vụng, khớp vai phải thoát vị. Một tháng trôi qua, vai anh ta vẫn không động đậy được, qua kiểm tra, bệnh viện ấy chịu bó tay. Túc Bình được chuyển tới Viện Nghiên cứu Ðông y Trùng Khánh, xin Nghiêm Tân chữa trị. Nghiêm Tân lặng lẽ ngồi trước nạn nhân. Hai tay duỗi ngửa từ từ nhập tịnh. Sau mấy nhịp thở sâu, ông mở miệng: "Hai xương bả vai gãy rời vụn. Chỗ ghép nối ở điểm bên phải xương bả vai khoảng chừng ba phân bị trệch". Những điều chẩn đoán bằng phát công thấu thị của Nghiêm Tân hoàn toàn khớp với kết quả chiếu điện quan sau đó. Tiếp đó, những dây băng chằng chịt quấn chặt lấy thân thể Túc Bình được cởi bỏ hết. Nạn nhân được dìu nằm sấp trên giường. Nghiêm Tân huy động cả hai tay băm đấm, xoa, bóp mạnh mẽ trên lưng Túc Bình, làm anh ta có cảm giác buồn buồn, tên tê. Cả một vùng sau lưng mát lạnh. Hai mươi phút sau, Nghiêm Tân thu hồi công lực, đi thăm bệnh ở các phòng khác. Khoảng nửa giờ sau, ông quay lại nói với Túc Bình vẫn ngoan ngoãn nằm im trên giường. "Xoay ngửa người lại". Anh ta sửng sốt nhìn Nghiêm Tân, nghĩ tai mình nghe nhầm, Nghiêm Tân hiểu ý nói thêm: "Ðừng sợ, cứ làm như là chưa từng bị làm sao ấy". Nghe vậy, Túc Bình lấy sức xoay mình và nằm ngửa ra một cách dễ dàng. "Bây giờ anh hãy làm mấy động tác giã giò co tay trên giường!". Như huấn luyện viên đang ra lệnh cho vận động viên của mình. Nghiêm Tân nói: "Sợ gì nào, anh khỏi hẳn rồi mà!". Túc Bình xúc động quay sấp mình, làm liên năm lần động tác co tay giã giò. Sau đó, theo lệnh của Nghiêm Tân, anh ta xuống giường, bước ra cửa, nắm lấy khung cửa làm một mạch ba mươi lần động tác co tay trên xà, còn dùng một tay nhấc lên vật nặng trên hai mươi cân.

Ngày 10-2-1985, hai bác sĩ Lý Du và Từ Mãn ở quân y viện Tây Nam đã khám lại cho Túc Bình. Qua kiểm tra X quang và chụp phim, chứng thực vết thương đã lành hẳn, ngay những chỗ xương bị gãy vụn trước kia cũng không còn để lại dấu vết gì.

Từ đó trở đi, công năng hai vai của Túc Bình đã hồi phục hoàn toàn. Trở lại nhà máy, những phối kiện thép nặng hàng tạ anh ta lại có thể bấy dịch dễ dàng. Anh có thể dùng sức vai để nâng vài tạ mà vẫn bình thường.

Gặp những ca gãy xương, Nghiêm Tân chủ yếu dựa vào phát ra ngoại khí để trị liệu. Hình thức phát công này rất đa dạng. Có lúc phát công ở sát và gần cũng có khi phải phát công ở cự ly xa, hoặc cách vật cản như bức tường, cây cối... cũng có khi lại trực tiếp tiếp xúc với một bộ phận bị thương tổn của bệnh nhân để phát công.

Cháu Dư Lập Ðộ chín tuổi, là con ông Trần Xương Cung ở nhà máy hoá chất Tứ Xuyên bị gãy dập ngón tay cái hồi tháng 4-1984. Nghiêm Tân dùng hai bàn tay mình kẹp chặt lấy ngón tay gãy của cháu rồi phát khí, cháu nói là cảm thấy nóng bỏng từng đợt ở ngón tay đó, nửa giờ sau, ngón tay cháu khỏi hẳn. Xương ngón tay trở lại lành lặn như nguyên.

Ngày 6-7-1985 anh Dương Diệu Tổ ở Liên hiệp công đoàn thành phố Trùng Khánh bị gẫy xương bàn tay phải, mu bàn tay sưng to như một chiếc bánh bao, năm ngón tay cứng đờ. Nghiêm Tân được mời đến. Trước tiên, ông điểm mấy huyệt vì trên người Dương Diệu Tổ. Diệu Tổ cảm thấy như có dòng điện chạy qua khắp người mình. Sau đó Nghiêm Tân bước ra phòng ngoài, cách bức tường để phát công vào bệnh nhân, bệnh nhân cảm thấy toàn thân mình như trôi nổi lên, chỗ bị thương thấy giật giật lên một lúc, rồi không còn thấy đau đớn nữa. Hai giờ sau vết thương khỏi hẳn. Tay hết sưng và công năng đã hồi phục.

4. Chữa teo cơ

Năm 1984, chị Chu Quế Trân, giáo viên trường tiểu học số hai huyện Mật Vân, ngoại thành Bắc Kinh bị phong thấp, dẫn đến đau thắt lưng và nhức đầu. Ðùi trái bị teo cơ, hai chân dưới gần như liệt. Nhiều thầy thuốc Ðông, Tây y nổi tiếng điều trị vẫn không khỏi. Trong cơn tuyệt vọng, chị viết thư cầu cứu bác sĩ Nghiêm Tân. Sáng 24-5-1986, bác sĩ Tân đến nhà, vừa hỏi chuyện Quế Trân, vừa ngầm vận khí công chữa bệnh cho chị. Chu Quế Trân kể lại: "Ðang ngồi nói chuyện, tôi cảm thấy hai vai như có luồng gió thổi qua, rất lạnh. Tôi gọi người nhà lấy thêm áo mặc. Song bác sĩ Tân bảo: "Ðừng sợ, tôi đang dùng khí công loại bỏ khí thấp trên người chị". Một lúc sau, nhà tôi thấy cánh tay trái bác sĩ ướt đầm đìa, còn cánh tay phải hoàn toàn khô ráo, đó là phép "dẫn đạo khí công". Sau đó bác sĩ Tân bảo tôi vào nằm nghỉ trong gian phòng nhỏ. Mấy phút qua đi, tôi thấy một cảm giác kỳ lạ, như có luồng điện chạy qua toàn thân, các đốt sống cũng động đậy. Cảm giác đau lưng mất dần. Tôi ngủ thiếp đi, lúc mở mắt, nhỏm dậy lưng không đau. Xuống khỏi giường tôi thử vặn người, đá chân, hoạt động thoải mái. Bác sĩ Tân đã phát công chữa bệnh cho tôi qua bức tường suốt năm giờ liền, từ một đến sáu giờ chiều. Bệnh của tôi đã khỏi hẳn".

5. Chữa hoại tử

Một cán bộ xưởng máy kéo Bắc Ninh bị loại tử xương mắt cá chân, nhiều năm không đứng, không ngồi được, bệnh viện nói phải tháo khớp. Anh tìm đến Nghiêm Tân. Bác sĩ Tân bảo bệnh nhân ngâm chân vào một chậu nước, rồi bác sĩ ra chỗ vắng người vận khí công điều trị. Người bệnh ngồi im lìm như đang ngủ, gần ba giờ sau, Nghiêm Tân quay lại gọi dậy. Người bệnh trước đây không ngồi nổi mười phút, nay đã ngồi gần ba giờ, sau đó lại đi ra phố chơi một giờ liền. Bệnh nhân khỏi hẳn như là có phép lạ vậy.

6. Rắn như thép

Cuối năm 1986, Nghiêm Tân sang thăm Nhật Bản, cùng với đoàn đại biểu Hội nghiên cứu khoa học khí công Trung Quốc, vô tình ông đã tiếp một cuộc khiêu chiến của đồng nghiệp Nhật Bản, phải đọ khí hết phép và giành thắng lợi, làm thành một giai thoại thời sự.

Hôm đó vào buổi tối ngày 17-11-1986, tại khách sạn Ðại Tân Cốc Tokyo, giới đồng nghiệp Nhật mở tiệc chiêu đãi các bạn Trung Quốc. Giữa tiệc, ông Kusudu, Chủ tịch Hội nghiên cứu khoa học khí công của Nhật Bản phàn nàn với trưởng đoàn Trung Quốc Trương Chấn Hoàn, nỗi khổ do bệnh đau khớp khuỷu tay đã nhiều năm chữa trị nhưng vô hiệu của mình; ông muốn nhờ một nhà khí công nào trong đoàn Trung Quốc chữa trị giúp. Trương Chấn Hoàn đã giao nhiệm vụ này cho Nghiêm Tân và đề nghị Nghiêm Tân sẽ nâng năm ly rượu lên Kusudu. Khi dâng rượu sẽ phát công chữa bệnh. Phương án trị liệu giàu kịch tính này làm người bạn Nhật Bản rất khoái. Kusudu vốn là bậc lão thành trong giới khí công Nhật, công lực không phải loại thường. Hơn nữa ông ta tửu lượng hơn người, từng có kỷ lục tối cao: uống liền mười tám chai rượu mạnh mà không say, có biệt hiệu "Hũ rượu đại". Khi nhận nhiệm vụ, Nghiêm Tân ngầm phát công lực thăm dò biết rằng, dây chằng khớp của Kusudu bị tổn thương ở dạng mãn tính (trần cựu), ông rót một ly rượu nhỏ Mao Ðài, dùng hai tay nângcho Kusudu, Kusudu đứng lên nhậnh lấy, rồi uống một hơi cạn. Lúc Nghiêm Tân định nâng tiếp ly th hai thì đâu ngờ vị "Hũ rượu đại" này có vẻ chuếch choáng nói: "Thôi, đổi uống bia", rồi lại đòi chia cốc bia ít nồng độ này thành 4 lần uống, gọi là cho đủ năm ly. Sau khi Kusudu nhăn nhó uống hết chỗ bia cuối cùng thì kỳ tích lập tức xuất hiện: với một bộ mặt đỏ gay, Kusudu giơ cao cánh tay đau của mình, co duỗi một lúc rồi vui sướng nói: "Hết đau rồi, không còn chút đau nào nữa! Công phu của Nghiêm tiên sinh quả thật cao siêu!". Ông ta là người trong nghề, ông hiểu rằng chỗ rượu ấy đã được Nghiêm Tân xử lý bằng công lực, chỗ đau nơi khuỷu tay mình cũng đã được Nghiêm Tân phát khí chữa trị.

Trong giới khí công của Nhật Bản cũng không thiếu những người không tin phục. Một hôm các đồng nghiệp hai nước Trung - Nhật đang vui vẻ toạ đàm, thì một nhà khí công Nhật Bản tên là Sukitari, tho6ng qua phiên dịch đề nghị được đấu "khí lực" để phân thắng bại với Nghiêm Tân. Không hiểu là do không nghe thủng ý của Sukitari hay do không hiểu sâu tính cách võ sĩ đạo của một số cao thủ trong giới khí công Nhật Bản, mà người phiên dịch sợ khi chuyển ngữ quá thẳng, làm tổn thương đến tình hữu hảo giữa đôi bên, nên ông đã dịch cho Nghiêm Tân là để "học hỏi lẫn nhau".

Nghiêm Tân vui vẻ nhận lời, nhưng khi nhìn sang đối phương Nghiên Tân cảm thấy sững sờ là một người đã luyện công, tập võ hơn ba mươi năm, hơn nữa lại có trong người những công n ăng đặc dị thần kỳ. Nghiêm TÂn nhận ra ngay "học hỏi lẫn nhau" ở đây bao hàm ý nghĩa gì. Sang Nhật lần này là một cuộc viếng thăm hữu nghị, Nghiêm Tân không hề chuẩn bị thi thố, đọ sức với bạn, nay họ đã chiếu thư, mà xem ra không phải là do ngẫu hứng nhất thời. Vừa rồi mình đã nhận lời, nếu làm thật, Nghiêm Tân tự hiểu công lực của mình có thể làm tổn thương đến đối phương, thậm chí có thể hủy các lục phủ ngũ tạng, như vậy không phù hợp với đạo đức trong võ lâm, không lợi cho tình hữu nghị giữa hai nước. Nhìn lại đối phương, rõ ràng không phải cỡ tầm thường, nếu có sơ suất, hậu quả khôn lường. Ngồi ở chỗ mình nhìn bên ngoài Nghiêm Tân có vẻ trấn tĩnh khác thường, nhưng trong đầu đã suy tính cân nhắc nhanh chóng. Sukitari không chút nể nang, lấy thế, vận khí, phát công lực mạnh nhằm thẳng vào mặt Nghiêm Tân. Mọi người nên hiểu đó là một nhà khí công có hạng của nước Nhật, châm cứu, điểm huyệt đều vào loại thượng thặng. Khi Sukitari vận đủ đan điền chi khí phát mạnh công vào Nghiêm Tân, thần lực đó hết sức lợi hại, nhưng Nghiêm Tân không hề cảm nhận chút nào, vẫn nói cười bình thường với mọi người, thản nhiên như không.

Thấy luồng khí phủ đầu phát ra không có tác dụng gì, Sukitari liên tục tăng lực phát công, mồ hồi trên trán vã ra nhưng Nghiêm Tân vẫn ngồi ngay ngắn vững chãi. Thấy không ổn, Sukitari dùng khí thu công, đề nghị được thay đổi phương hướng phát khí từ sau lưng Nghiêm Tân, Nghiêm Tân ưng thuận thoải mái. Sukitari lại lấy thế, liên hồi vận khí, nhằm đúng lưng Nghiêm Tân phát công ác liệt, nhưng vẫn vô hiệu, anh ta ướt đẫm mồ hôi, trong lòng cảm thấy lạ lắm. Chính diện tấn công không thấy nhúc nhích, phát công từ sau lưng cũng không thấy nhúc nhích, phát công từ sau lưng cũng không thấy suy chuyển, hay là do cự ly quá xa? Sukitari liền đến sát bên Nghiêm Tân, áp bàn tay vào lưng ông, vận toàn lực phát khí, dùng cả cơ cánh tay đẩy mạnh vào lưng Nghiêm Tân. Không ngờ cứ như bị va phải một hòn đó to, anh ta mệt mỏi thở gấp, mồ hôi vã ra như tắm, mặt đỏ gay. Nghiêm Tân vẫn ngồi như không có việc gì xảy ra. Sukitari hiểu rằng hôm nay đã gặp phải cao thủ. Nếu như chỉ dựa vào phát lực khí công và cậy sức húc bừa bãi thì chỉ có thất bại thảm bại. Anh ta đưa hai tay điểm luôn xuống huyệt Bách hội trên đỉnh đầu Nghiêm Tân. Ðây không phải là trò đùa, nếu huyệt này bị cao thủ điểm trúng thì chí ít cũng bị ngây ra như gỗ. Nhưng Nghiêm Tân vẫn vững như Thái Sơn, an toạ bật động, không hề cảm thấy gì khác thường. Lúc này nhìn bại cục đã định, Sukitari mồ hôi đầm đìa, thở hổn hển, trợn tròn hai mắt, bất ngờ vung ra đòn hiểm độc cuối cùng, giơ ngón tay bắt mạnh vào động mạch họng của Nghiêm Tân. Tóm bắt mạch vào động mạch họng là ngón đòn hiểm độc nhất. Người bị bắt trúng nếu không chết ngay thì sẽ bị tổn thương. Tuy vẫn ngồi yên thản nhiên, nhưng Nghiêm Tân hiểu rõ tính chất leo thang nâng cấp trong các động tác mà đối phương tung ra. Nhanh như cắt, khi tay đối phương vung tới, Nghiêm Tân không né tránh, cũng không trả đòn mà ông quay hẳn đầu lại để cho Sukitari tóm bắt "ngon lành". Kết quả là Nghiêm Tân vẫn bình an. Ðến nước này, nguyên khí trong người Sukitari mất sạch, chân tay bủn rủn, toàn thân rã rời, mới biết vị khí công danh sư trước mặt mình này quả là "danh bất hư truyền." Ông ta cúi mình nhận thua tại chỗ và nói thành khẩn: "Công phu của ngài quả là lợi hại, cao siêu! Xin bái phục." Rồi gọi người con trai đến, hai cha con cùng khẩn cầu bái Nghiêm Tân là sư phụ. Cuộc đọ võ hấp dẫn này làm cho người Nhật Bản vô cùng thán phục tài nghệ của Nghiêm Tân. Kế hoạch dự định sẽ có một cuộc đọ quyền giữa một quyền sư Nhật Bản với Nghiêm Tân, và một nhà kiếm thuật đọ kiếm với Nghiêm Tân được đối phương chủ động xin rút bỏ.

7. "Tác dụng xúc tác" của ngoại khí đối với các phản ứng hoá học

Ngày 22-12-1986, tổ chức nghiên cứu khoa học khí công Trường Ðại học Thanh Hoa hợp tác với bác sĩ Nghiêm Tân tiến hành thí nghiệm một tác động của khí công đối với các phản ứng hoá học. Trên bàn thực nghiệm bằng đá đặt một bình thủy tinh thạch anh, trong chứa đầy hỗn hợp gồm khí Kyđrô và ôxitcacbon (CO). Trong công nghiệp muốn giữa hỗn hợp này có phản ứng với nhau, cần có áp suất vài chục át-mốt-phe, độ nóng 300 độ C và chất xúc tác. Nhưng lúc này trong bình chỉ có áp suất mo6.t át-mốt-phe, cũng không có chất xúc tác, nhiệt đo6. trong phòng là 13 độ C. Sau khi Nghiêm Tân phát cường công, một vị giáo sư đem bình đến đo ở máy quang phổ hồng ngoại. Qua máy tính xử lý, phổ đồ hiện trên màn hình huỳnh quang ti-vi màu, cho thấy trong bình đã xuất hiện hoá chất mới, phản ứng hoá học đã xảy ra dưới tác dụng của khí công. Mấy vị giáo sư, chuyên gia có mặt trong phòng đều công nhận thí nghiệm thành công, không phải tà thuật, phương pháp thí nghiệm chặt chẽ: người chỉ huy và người phát khí công đều không trực tiếp tham gia chuẩn bị vật thử và đo đạc.

Ngày 27-12-1986, thí nghiệm trên được lập lại, chỉ khác là Nghiêm Tân phát công từ một nơi cách phòng thí nghiệm bảy ki lô mét. Ðịa điểm thí nghiệm cũng khác nhau. Một máy lade trong phòng thí nghiệm lade, một nước và khí hỗn hợp trong một buồng tối. Kết quả chứng tỏ phát công điều khiển từ xa, không những có thể lặp lại kết quả thí nghiệm lần đầu, mà hiệu quả còn tốt hơn.

8. Làm thay đổi cấu tạo phân tử, tế bào

Ngoài ra, Nghiêm Tân còn phát công ở những khoảng cách khác nhau, vào một loại vật chất có khoảng cách khác nhau, vào một loại vật chất có hiệu ứng sinh lý như nước muối sinh lý (physiological saline, normal saline) dung dịch gluco. Khoảng cách thực nghiệm từ vài mét tới vài chục mét, từ vài ki lô mét tới hai trăm ki lô mét. Trong không đầy một tháng đã tiến hành 10 cuộc thí nghiệm vào bảy, tám loại vật chất khác nhau. Lần thí nghiệm lớn nhất có gần hai mươi vị giáo sư, giảng sư, nghiên cứu sinh tham gia, huy động bảy máy phân tích cỡ lớn. Một loạt thí nghiệm đó chứng tỏ "ngoại khí" do nhà khí công phát ra để làm thay đổi rõ rệt kết cấu phân tử của axit nucleic tế bào, có thể tác động tới nhiều loại phân tử vật chất tạo nên tế bào. Đó là một trong những nguyên nhân khiến khí công chữa khỏi bệnh.

Hơn ba mươi năm tu thân luyện công, hơn ba mươi năm hành y chữa bệnh, với y thuật thần kỳ và y hiệu như thần thoại của mình. Nghiêm Tân đã để lại nhiều "câu đố" không thể giải thích nổi.

Tuy có công lực thâm hậu, thần diệu nhưng Nghiêm Tân không phải là thần tiên, không thể chữa trị được bách bệnh. Ông đã nhiều lần nói, những cao thủ có bản lĩnh tuyệt đỉnh không thiếu gì trong dân gian. Ông vẫn phải tiếp tục tầm sư học đạo, tinh luyện công lực. Đồng thời Nghiêm Tân cho rằng khí công cao cấp và những công năng đặc dị không phải là thứ gì thần bí siêu hình. Con người có chừng mười bốn tỷ tế bào đại não, thông thường mới chỉ sử dụng độ hơn một triệu tế bào, còn tuyệt đại đa số các tế bào não được tồn chứa một cách lặng lẽ, vô dụng. Ông mới luyện công được mấy chục năm, cùng lắm cũng chỉ mới khai thác thêm được một phần rất nhỏ nữa trong sự tàng trữ khổng lồ ấỵ Luyện công lực như vậy còn rất xa mới tới được đá sâu của công phu, có luyệt suốt đời cũng không tới nổi sự tận cùng của tiềm năng con người.

Các dạng năng lượng đặc biệt khác thường (hay còn gọi là công năng đặc biệt khác thường) mà Nghiêm Tân có thể bức xạ mỗi khi "phát công" còn là một thế giới đầy bí ẩn đối với mỗi chúng ta. Ở đầy các dạng bức xạ năng lượng của khí công và trường sinh học (hào quang sinh học, chất plasma học) có mối liên quan nào chăng? Phải chăng tập khí công có thể khai thát được những năng lượng sinh học tiềm ẩn trong mỗi con người - Năng lượng trường sinh học?

Giải đáp được vấn đề này thật không dễ dàng, chúng ta tin rằng, rồi đây một ngành khoa học mới sẽ ra đời nghành khoa học của thế kỷ 21 sẽ giúp ta hiểu sâu về những khả năng của chính bản thân mình.

Nhà khí công và võ sĩ quyền anh

Cuối năm 1985, công chúng yêu võ thuật của thành phố New York (Mỹ) đã chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ: võ sĩ quyền anh "tầm cỡ" Mỹ đã xin "chào thua" nhà khí công nhỏ bé Trung Quốc, khi trận đấu võ chưa bắt đầu. Một ngày giá lạnh sau lễ Nô-en, thầy trò Hải Đăng và Phạm Ứng Liên (trong đòan đại biểu điện ảnh Trung Quốc đang thăm ở Mỹ) đã biểu diễn những đường võ kỳ tài, trước ống kính các máy quay, máy ghi và khán giả đặc kín nhà hát New York. Khán giả yêu võ thuật vô cùng kinh ngạc và thán phục hai bậc võ sư Châu Á nhỏ bé nhưng đầy tài năng này. Sau nhiều lần cúi đầu đáp lễ giữa tiếng vỗ tay không dứt của khán giả, Phạm Ứng Liên đang chuẩn bị bước xuống, thì một thanh niên da trắng lực lưỡng, cao hơn Liên hẳn một cái đầu, bước lên sân khấu đầy tự tin, yêu cầu được đấu võ tại trận với anh.

Đây là một quyền sư dạy võ, ở một lò võ lớn bản xứ, tên anh ta là Mai-cơn, không chỉ là một võ sĩ quyền anh tầm cỡ, từng có kỷ lục hạ đo ván đối thủ ngay đòn đầu tiên, anh còn lắm được nhiều môn võ công nước ngoài như: nhu đạo, không thủ đạo, Karate... ngoài ra anh đã từng bỏ ra hai năm để nghiên cứu môn phái "Vịnh xuân quyền" của Trung Quốc.

Qua phiên dịch, Phạm Ứng Liên n'i với Mai-cơn "Anh có thể dùng quyền cước hay gậy gộc công kích vào bất kỳ vào bộ phận nào trên thân thể tôi, trừ bộ hạ và phần đầu. Tôi sẽ không tránh né cũng không phản kích. Nếu anh có thể đánh đổ được tôi, chúng ta sẽ đấu võ với nhau. Nếu không tôi xin được đáp lễ anh một quyền. Tất nhiên như "ngài" muốn, thì tôi cũng sẽ vui lòng miễn bỏ quyền ấy."

"Ồ" -- Mai-cơn cười nhạt. Sau một phút ngưng thần, anh ta vận đủ khí lực và nhằm đúng vào vùng tim Phạm Ứng Liên ra luôn một đòn "Hắc hổ moi tim". "Đùng", tiếng chạm đòn vang như trống dậy. Trong tiếng ồn kinh hãi của khán giả, Phạm Ứng Liên vẫn vững chãi đứng đó, vẻ mặt không chút thay đổi. Mai-cơn quay lại nháy mắt với khán giả, giơ quả đấm lên nhìn một cách hài hước. Tiếp đó anh ta vung quyền cực mạnh đấm tới tấp vào ngực, bụng, lưng, và phần sườn Phạm Ứng Liên. Nghe tiếng đòn "đùng đùng" ghê rợn đó, những khán giả nhát gan, phải nhắm mắt quay đi. Thấy Phạm Ứng Liên vẫn thản nhiên mỉm cười tươi tắn, Mai-cơn liền sử dụng cước pháp Karate, liên tiếp phóng ra những cú đá dữ dằn vào vùng lá lách anh.

Cả một trận quyền cước hùng hổ ấy làm anh chàng Mai-cơn vạm vỡ mệt lử, thở dồn dập. Song, bên bị đòn thì vẫn mỉm cười, bình an như không có việc gì xảy ra cả.

Thấy Mai-cơn không muốn tấn công tiếp, người phiên dịch nhắc nhở: "Hình như bây giờ đến lượt ngài Phạm Ứng Liên xuất chưởng?" Mai-cơn thót mình, lắc đầu lia lịa: "Không, không...", rồi bắt chước thói quen của các võ sư phương Đông, anh ta khoanh tay cúi chào và nói giọng kính phục: "Võ nghệ của ngài thật là lợi hại, thật là cao siêu". Anh ta còn để lại danh thiếp cho Phạm Ứng Liên, rồi mới bước xuống sân khấu.

Đây là một thực tế khách quan, chúng ta thừa nhận mà chưa hề giải thích được cơ chế của hiện tượng này.

Thò tay vào vạc dầu sôi

...Vào tháng tư năm 1987, có một buổi biểu diễn ca múa nhạc tại phòng ca múa "Quý Tân" của một khách sạn ở thành phố Ngũ Dương (Quảng Châu, Trung Quốc); đang lúc sôi nổi thì người phụ nữ chủ trì buổi diễn bước ra tuyên bố: "... Sau đây là một tiết mục độc đáo: tiên sinh Lương Chính Long từ Hồng Kông tới, sẽ biểu diễn "Nhiệt ứng công"."

Người ta khiêng ra một chiếc vạc lớn, đường kính tới hơn một mét. Vạc được đặt trên một lò lửa đang cháy rừng rực. Trong vạc, dầu đang sôi, một người vứt vào trong vạc dầu hai, ba mảnh tôn, lập tức những mảnh tôn theo dầu sôi sùng sục, nổi chìm lên xuống. Có thể thấy rõ là nhiệt độ dầu đang rất cao.

Lương Chính Long bước ra, râu dài, tóc dài, vai khoác một chiếc áo choàng mầu vàng, chân đi giầy vải đen - trang phục của võ phái; ông đứng trước vạt dầu, tĩnh tâm, tĩnh khí, ngưng thân một lát, vận công phát lực, khí theo ý chuyển, hai tay phát động vài chiêu thức như chim ưng vồ mồi, rồi hét lên một tiếng "hây", tay phải thọc thẳng vào vạc dầu sôi, trong khoảnh khắc vớt ra một thanh dùi sắt dài chừng một mét, vứt trên mặt đất. Mọi người vừa thán phục vừa kinh ngạc. Sau đó, mọi người đứng vây quanh Lương Chính Long để quan sát chuyện trò với ông. Người ta chỉ thấy bàn tay phải của ông hơi to hơn bàn tay trái, sau khi vớt vật từ tron dầu sôi ra, da tay phải hơi hồng lên một chút. Ngoài ra không có gì khác cả.

Lương Chính Long chỉ vào cái đai thắt chặt trên cổ tay và nói: "Thường chỉ sau khi biểu diễn xong, tôi phải toạ công ngay để phát tán hết nhiệt độc. Nhưng lần này, vì không toạ công ngay được, nên tôi phải thắt cái đai này phòng nhiệt độc vào tim."

Người thường bị bỏng thì da phồng rộp lên và mọng nước, nhưng Lương Chính Long sau bảy ngày chỉ bong đi một lớp da mỏng. Sau mười lăm ngày, lại tiến hành biểu diễn được.

Khỉ hỏi ông về biệt tài này, Lương tiên sinh kể: "Công phu này gọi là Nhiệt ứng công, thuộc vê nội ngạnh công của Thiếu lâm bắc phái. Trong Thiếu lâm Đạt ma quyền có hai môn "Ứng trảo công" là Nhiệt công và Lãnh ưng".

Luyện "Nhiệt ứng công" thì tay phải tẩm luyện trong cát nóng, nước nóng. Khi vận động, kinh lực tập trung vào một tay, nhiệt phát tán từ tay có thể nâng cao nhiệt độ của một gầu nước lạnh.

Luyện "Lãnh ưng công" thì tay phải tẩm luyện trong một khối băng, nếu công phu thành công thì có th ể làm cho nhiệt độ bồn nước hạ thấp xuống.

Thuở đó, Lương Chính Long sống ở Quảng Châu, ngày ngày đi học phải đi qua một ngõ nhỏ. Lương phát hiện ra một ông già ngày ngày luyện công không hề ngưng nghỉ. Thấy thích thú, Lương ngày nào cũng tới xem ông tập, thế là hai người trở thành sư phụ và đệ tử. Lương Chính Long bắt đầu luyện công từ ngày đó, tới nay đã hơn hai mươi ba năm.

Năm năm đầu tập luyện công phu cơ bản, sau đó luyện "tháp sa" (cắm tay trong cát được hung nóng). Hai năm sau, luyện tập lấy vật từ nước sôi, sau đó lấy vật từ trong dầu sôi. Hơn hai mươi năm đã tro6i qua, sư phụ họ Đàm đã tạ thế, nhưng Lương Chính Long vẫn ngày ngày luyện tập công phu không hề ngưng nghỉ.

Lương Chính Long còn biểu diễn, lấy dùi nung đỏ từ trong lò than đá của xưởng luyện gang thép. Đạo diễn vô tuyến truyền hình hôm ấy lấy ngay nhiệt kế giới hạn 400 độ C đo nhiệt nhiệt độ lò than, nhưng nhiệt kế nổ ngay. Ngoài ra, thỉnh thoảng Lương Chính Long còn biểu diễn công phu tay không bóp vụn hai mươi bốn chiếc thìa.

Thời gian gần đây, ngoài những yêu cầu biểu diễn hoặc đóng phim ở trong nước, Lương Chính Long cũng đã được mời đi biểu diễn công phu ở nhiều nước trên thế giới.

Một cuốn sách xuất bản cuối năm 1984 ở Mỹ với tựa đề "Thế giới kiện học sĩ đại toàn", ghi chép các kỷ lục công phu của các kỳ nhân, cũng ghi nhận công phu "Nhiệt ứng công" của Lương Chính Long. Sách ghi nhận "Công phu này có thể đương đầu với nhiệt độ 1300 độ C".
(Bài sưu tầm)
Read more…

Điểm giống và khác nhau của 2 bài luyện Đan Điền Công

00:37 |
Điểm giống và khác nhau của 2 bài luyện Đan Điền Công.
1.  Giống nhau:
a. Cả hai bài luyện đều là bài luyện ĐĐC-tên theo công pháp hay đều là Sinh khí công-tên gọi theo chức năng. Là một bài luyện căn bản trong hệ thống Tĩnh khí công. Có tác dụng dưỡng sinh rất cao.
Vì cùng là một công pháp, lại trong cùng một hệ thống, nên hình thức và cách thức tập luyện mang đặc thù chung, tương đối đồng nhất về: hơi thở, quán tưởng, mật lệnh và đường đi của khí.
b. Có chung một tác dụng chính đó là: “Phát sinh chân khí ở Đan Điền”.
2. Điểm khác nhau:
a. Về tên gọi khác nhau: ĐĐC vòng Thái cực nội gia quyền; ĐĐC vòng Thái cực ngoại gia quyền. Có thể hình dung và hiểu trực quan là: một bài luyện với vòng (dẫn khí) trong, 1 với vòng ngoài, một luyện với vòng nhỏ hơn, một vòng lớn hơn.
b. Về độ khó luyện tập nói chung: luyện vòng ngoại gia quyền đỏi hỏi nhiều công phu và sự nỗ lực hơn.
c. Về đường đi của khí: Mặc dù cả hai bài luyện đều tập trung luyện khí trong phạm vi mạch Nhâm và mạch Đốc. Tuy nhiên bài luyện với vòng nội gia chú ý nhiều tới 2 điểm (2 trung tâm tụ khí, 2 trung tâm năng lượng) là Bách Hội và Đan Điền. Trong khi đó vòng ngoại gia tập trung tới 4 điểm, ngoài 2 điểm trên còn bổ sung thêm tổ hợp Trường cường-Hội âm và Mệnh Môn, đồng thời đường dẫn khí được mở rộng, kéo dài hơn.
Như vậy với việc mở rộng đường dẫn khí, bài luyện ĐĐC ngoại gia quyền đã giúp việc luyện tập trên hai đại mạch một các đầy đủ và toàn diện.
d. Về quá trình hô hấp: Vòng nội gia quyền: hô hấp 4 thì chia làm 4 giai đoạn (bằng nhau). Vòng ngoại gia hô hấp 4 thì chia làm 8 giai đoạn (bằng nhau?).
e. Tác dụng:
Ngoài tác dụng chung của cả công pháp là: “phát sinh chân khí ở Đan Điền”. Thì bài luyện ĐĐC ngoại gia quyền còn có một số tác dụng thêm:
+ Hoàn thiện một cách đầy đủ quá trình luyện tập trên hai đại mạch của cơ thể: Đả thông hai mạch Nhâm Đốc.
+ Làm quen với việc thở ra chia làm 2 giai đoạn, trợ giúp cho việc thở Nội Chu Thiên và các công pháp khác với cùng cách thở.
+ Cân bằng năng lượng âm và năng lượng Dương trong cơ thể. Đặc biệt là quá trình cân bằng âm dương trong Đan điền.
+ Kích phát năng lượng ở tổ hợp Trường cường-Hội âm: có thể liên quan đến việc kích phát Hỏa xà và quá trình sản sinh tế bào mầm.
Read more…

Hướng dẫn tập Đan Điền Công

01:04 |

Read more…

Khí Công Tâm Linh- Hướng dẫn luyện tập dành cho người mới

03:22 |

Tôi được biết là có nhiều bạn muốn học khí công, học thiền. Nhưng số đông đều cảm thấy có nhiều khó khăn mà không dám bước vào luyện tập, hoặc đã bắt đầu tập rồi nhưng vẫn còn băn khoăn không biết mình đã tập đúng chưa. Những câu hỏi hay đặt ra là: Tư thế tập thế nào ? Giờ nào tập thì tốt ? Nếu có suy nghĩ lung tung khi ngồi tập thì phải làm sao ? Tập thiền môn này trong khi trước đây đã học các môn khác thì có được không ?…Xuất phát từ những điều đó, tôi viết bài này với mong muốn giới thiệu một cách ngắn gọn cho một người mới bắt đầu tập luyện môn "khí công tâm linh", những kiến thức cơ bản ban đầu, để có thể tiến hành vào luyện tập ngay mà chưa cần quan tâm nhiều đến những vấn đề lý luận sâu hơn đằng sau. Vì là bài viết dành cho người mới nên sẽ có một số điều mà nhiều bạn đã biết rồi.
Để có một cái nhìn tổng quan ban đầu, tôi xin nói một chút về khí công, phần sau sẽ nói về những chú ý cần biết cho việc bước vào luyện tập.

1. Khí công là gì?
Khí ở đây không đồng nhất với không khí mà ta hít thở hàng ngày. Mà khí ở đây được hiểu là một dạng năng lượng tồn tại trong vũ trụ có thể biểu hiện ở nhiều dạng, nhiều trạng thái khác nhau. Khí ở đây có tên là " Năng lượng bức xạ sinh học" hay " Năng lượng Vũ trụ "
Công ở đây là công phu, công pháp, là một thuật, một phương pháp…
Như vậy có thể hiểu khí công là công phu vận hành khí. Đó là một thuật rèn luyện đồng thời cả tinh thần và thể chất. Nhiều người còn đồng nhất khí công là một phương pháp rèn luyện, phục hồi, nâng cao sức khỏe; khí công là một phương pháp chữa bệnh; khí công là một phương pháp dưỡng sinh, là một phương pháp luyện tập trong võ thuật, là phương pháp giữ gìn tuổi thanh xuân; là con đường để khai tâm mở huệ, kích phát các tiềm năng, công năng đặc biệt của con người…Theo tôi khí công bao hàm tất cả các ý nghĩa trên. Qua đây các bạn có thể phần nào hiểu về ý nghĩa tác dụng của việc luyện tập khí công.

2. Khí công tâm linh là gì?
KCTL là một con đường luyện tập khí công với nền tảng là “tĩnh công ý thức” (ngồi thiền chủ động) đồng thời có sự hỗ trợ trực tiếp và rất hiệu quả của lực lượng chính đạo thuộc " Thế giới Tâm linh ".

3. Một số điều bạn cần biết để bắt đầu luyện tập.
Tôi xin đưa ra một số điểm chính mà nhiều người mới học thiền hay có thắc mắc.

Về tư thế:
Vì là bộ môn ngồi thiền nên bạn cần phải ngồi (với một vài trường hợp cá biệt về tuổi tác hay đang ốm nặng thì có thể ngồi ghế hay nằm) Tuy nhiên để đạt hiểu quả tốt nhất thì lời khuyên chân thành là bạn nên ngồi cho đúng. Bạn có thể ngồi xếp bằng, ngồi ở tư thế bán già (một chân này để lên đùi chân kia), hay ngồi kiết già (chân này để lên đùi chân kia). Với những người tương đối trẻ tuổi thì nên ngồi kiết già hay bán già thì sẽ tốt hơn. Bạn cũng có thể ngồi trên một tấm nệm nhưng đừng quá dày và quá êm. Trong cả ba tư thế đó thì yêu cầu chung là lưng thẳng, cổ thẳng, thả lỏng toàn bộ cơ thể. Bạn phải đảm bảo chắn chắn rằng tất cả các cơ có thể thả lỏng đều được thả lỏng, thả lỏng bằng ý thức của mình. 
Sau khi bạn đã ổn định ở một tư thế đã chọn với sự thả lỏng toàn thân. Bạn hãy nhẹ nhàng nhắm mắt lại, hai tay để ngửa đặt trên đầu gồi với ngón trỏ chạm nhẹ vào ngón cái, các ngón còn lại duỗi thằng (kết ấn vô minh), khi đó lưỡi hơi để chạm nhẹ vào vòm miệng phần chân răng hàm trên (cứ ngậm miệng lại là được rồi), hơi thở tự nhiên, nhẹ nhàng và đừng cố gắng dẫn dắt hơi thở theo một lộ trình nào cả, hãy để nó thật tự nhiên, thật thoải mái. Cuối cùng một lần nữa bạn dùng ý thức của mình kiểm tra, dò lại tất cả những điều trên xem đã đúng chưa. Nếu đã xong chúng ta có thể bật bài luyện của Thầy và tập luyện.

Về tư tưởng trong quá trình luyện tập.
Một số người mới bắt đầu sợ rằng: Khi thiền cần phải vô thức, đầu óc không được nghĩ gì nhưng để làm được điều đó thì rất khó nên đã không dám tập hoặc không đủ kiên trì để bắt đầu tập. Đúng là thiền thì cần phải buông bỏ suy nghĩ, buông bỏ tạp niệm. Tuy nhiên với người mới học Thiền thì điều đó gần như là không thể. Cứ kiên trì một thời gian với tâm niệm: những suy nghĩ lung tung cần phải được loại bỏ, chúng ta sẽ làm được. 
Có hai trạng thái tư tưởng mà người tập có thể sử dụng khi luyện các bài tập là: trạng thái quán tưởng theo nội dung bài tập và trạng thái nhập tĩnh. Vì các bạn đều là những người mới nên tôi sẽ nói rõ về trạng thái quán tưởng theo nội dung bài tập. Tức là khi nghe thấy các lời hô các lệnh trong bài thì bạn cần quán tưởng, mường tượng ra những cảnh đó, vật đó trong suy nghĩ của mình. VD khi Thầy hô “ từ trên rất cao vòng thanh khí chân dương xoay theo chiều thiên chuyển xoáy thẳng xuống đỉnh đầu Bách Hội. Khi đó bạn chỉ cần nghĩ rằng có một vòng xoáy khí quay ở trên cao xoáy vào đỉnh đầu…
Một số thuật ngữ trong các bài tập mà bạn nên nắm được:
Thiên cung là vùng không gian trên đỉnh đầu
Địa cung là vùng dưới chỗ ngồi
Bách hội: một huyệt ở chính giữa trên đỉnh đầu
Mạch Nhâm: mạch chạy dưới da phía trước cơ thể
Mạch Đốc: mạch chạy phía sau cơ thể
Trục sinh lực: ống nối từ đỉnh đầu Bách hội, nằm chính giữa cơ thể xuống thẳng Hội âm.
Chiều thiên chuyển: chiều vặn nút chai xoáy vào đỉnh đầu xuống dưới
Chiều địa chuyển: chiều vặn nút chai xoáy từ dưới chỗ ngồi lên trên…
Dưới đây là hình ảnh các huyệt đạo quan trọng:


Xin lưu ý thêm một chút: ở giai đoạn đầu, khi các bạn tự luyện tập, cũng là giai đoạn bạn đang được môn pháp " Khí công Tâm linh " khai tâm mở huệ và phần thực thể thì đang được chữa bệnh và làm sạch. Vì là một người mới nên trong giai đoạn này các bạn chưa cần lưu ý đến hơi thở của mình, mặc dù bạn có thể quán tưởng theo nội dung bài tập nhưng bạn cũng chưa cần phải hiểu hết ý nghĩa những lời dẫn luyện đó. Một các đơn giản, các bạn chỉ cần làm một việc duy nhất là :NGỒI ĐÚNG TƯ THẾ - KIÊN TRÌ LUYỆN TẬP - TẬP TRUNG CẢM NHẬN SỰ THAY ĐỔI TRONG CƠ THỂ CỦA MÌNH.

Về cảm giác trong khi luyện tập.
Các bạn mới tập cũng đừng nên truy cầu nhiều quá về các cảm giác. Cứ để chúng xuất hiện thật tự nhiên và bạn hãy hoan hỉ ghi nhận chúng lại. Các cảm giác có thể gặp trong khi luyện: tê, mỏi, nóng, lạnh, mát, rung động, co giật, xoay đảo…có thể một vài người thấy có ánh sáng, hình ảnh, ngửi thấy mùi vị, nghe thấy âm thanh…tất cả đều rất bình thường cứ tiếp tục chuyên chú luyện tập. Có một số bạn cũng chia sẻ rằng không có cảm nhận gì hoặc rất ít, yên tâm bạn nằm trong số 30 – 35% người có cơ địa ít nhạy cảm, còn những người có cơ địa nhạy cảm, có thể nhận biết tín hiệu ngay cũng không nhiều hơn 30% đâu. Nhưng sau một vài tháng luyện tập cảm nhận về khí nhất định sẽ xuất hiện với hầu hết những người đã tham gia luyện tập môn này. Với tôi một cách thiết thực nhất là bạn hãy tự kiểm chứng lại tình trạng sức khỏe, trạng thái tâm lý của mình đã được cải thiện ở mức độ nào. Đó mới chính là điều đáng quan tâm nhất.
Nếu có hiện tượng lạ xảy ra trong khi luyện tập thì các bạn có thể tạm dừng rồi sau đó lại luyện tập tiếp. Môn học này hoàn toàn không gây ra một điều gì bất lợi cho người tập.

Về thời gian, phương hướng luyện tập
Hầu hết các bạn đều rất bận rộn với các công việc của mình thế nên hãy tập bất cứ khi nào bạn rảnh. Ít nhất một lần trong ngày, có thể là buổi sáng, buổi trưa, buổi tối…đều được cả. Mỗi bài luyện kéo dài khoảng 40-50 phút, bạn hãy đảm bảo cho đủ quỹ thời gian để hoàn thành bài tập. Thật là tốt nếu bạn có thể tìm cho mình một chỗ thoáng đãng, mát mẻ, ít người làm phiền để bắt đầu một bài tập, trong phòng ngủ cũng được, ngoài ban công, công viên, vườn hoa…đều được cả. 
Có một số người còn thắc mắc về phương hướng ngồi thiền. Có lý thuyết cho rằng: buổi sáng thì quay mặt về hướng Đông, trưa là hướng Nam, chiều là hướng Tây, tối là hướng Bắc. Được như vậy cũng rất tốt. Tuy nhiên bạn cũng có thể tự tìm cho mình một hướng ngồi, cả vị trí ngồi nữa mà bạn cảm thấy có hiệu quả nhất.

Chắc chắn nhiều bạn sẽ có vài vấn đề thắc mắc, các bạn có thể gửi câu hỏi trực tiếp lên diễn đàn chúng ta cùng trao đổi thêm hoặc bạn cũng có thể tham khảo các chủ đề có liên quan tương tự trong diễn đàn.
Lời cuối xin chúc các bạn thành công.

Phần dưới là link để tải các bài luyện căn bản của bộ môn Khí Công Tâm Linh. Các bạn có thể tải và luyện tập theo thứ tự các bài luyện được đánh số từ nhỏ tới lớn.

1. Bài Thanh Khí Khai tâm http://www.mediafire.com/?5aqb5kb11qyjd5u
3. Bài luyện trí (não) http://www.mediafire.com/?0sk389cbbzcny8w
4. Bài luyện Phế (phổi): http://www.mediafire.com/?gcoguyf88pxsqyw
6. Bài luyện Luyện Tỳ http://www.mediafire.com/?aaocrd3n7oozc3f

Read more…

Giới Thiệu Về Bộ Môn Khí Công Tâm Linh

03:19 |
Là bộ môn khí công được sáng lập bởi khí công sư, thiền sư Nhật Nguyệt Tuệ Tâm, Khí công Tâm linh là một công pháp rèn luyện đồng thời cả thân và tâm giúp người học có thể cải thiện sức khỏe, đầy lùi bệnh tật, nâng cao nghị lực trí lực, trau dồi đạo đức, lối sống cho con người....

Một số bài viết dưới đây được đăng tải trên trang chủ tukhicongdentamlinh.net và tôi sao chép lưu trữ tại blog này. Mọi thắc mắc liên quan tới quá trình luyện tập các bạn có thể chia sẻ hỏi đáp trực tiếp tại diễn đàn của trang chủ.
Read more…